Liên kết website

25/11/2010 14:46
Nghiên cứu - Đánh giá

Phân tích tình hình xếp hạng chỉ số phát triển của Việt Nam do các cơ quan tổ chức quốc tế thực hiện

           

Trong giai đoạn từ 2003 đến nay, chỉ số phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) (lưu ý tên gọi này có thể được xuất hiện dưới các hình thức khác nhau như chỉ số sẵn sàng chính phủ điện tử, chỉ số đo đạc CNTT-TT) đã được thực hiện đánh giá và xếp hạng bởi một số cơ quan tổ chức quốc tế như viện Brookings, trường đại học Waseda, diễn đàn kinh tế thế giới, Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội thuộc Liên hiệp quốc, tổ chức viễn thông quốc tế ITU … Nhờ đó, số liệu về thực trạng phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam cũng đã được thu thập, phân tích và xếp hạng chung với các nước trên thế giới. Điều này cho phép nhìn nhận khá khách quan, toàn cảnh về quá trình và kết quả triển khai chính phủ điện tử ở Việt Nam, tương quan với mức độ chung của khu vực và thế giới, cho phép điều chỉnh quá trình phát triển để phù hợp hơn với thực tiễn trong ngoài nước. Bài báo này tập trung vào phân tích tình hình xếp hạng chỉ số phát triển của Việt Nam do hai cơ quan là Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội thuộc Liên hiệp quốc và Tổ chức viễn thông quốc tế ITU.


         

Báo cáo về chỉ số phát triển chính phủ điện tử do Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội thuộc Liên hiệp quốc xây dựng.

Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội là một tổ chức trực thuộc Liên hiệp quốc có chức năng liên kết giữa chính sách toàn cầu về kinh tế, xã hội và môi trường với các hoạt động quốc gia. Nhiệm vụ cụ thể của Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội bao gồm ba mảng liên kết chặt chẽ với nhau bao gồm: (i) xây dựng, kết hợp và phân tích rộng rãi các loại dữ liệu và thông tin về kính tế, xã hội và môi trường, qua đó giúp các nước thành viên Liên hiệp quốc xem xét các vấn đề chung và các chính sách ứng phó thích hợp; (ii) thúc đẩy đối thoại giữa các nước thành viên thông qua các tổ chức đa phương cũng như tham gia các buổi họp nhiều thành viên để xử lý các thách thức có tính toàn cầu; (iii) và tư vấn cho chính phủ các nước quan tâm về đường hướng và cách thức chuyển đổi các phương pháp, chính sách được xây dựng tại những buổi họp, hội thảo tại Liên hiệp quốc thành những chương trình cụ thể để triển khai tại quốc gia.

Kể từ năm 2003 tới nay, Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội đã năm lần xây dựng báo cáo về chỉ số phát triển chính phủ điện tử (hay còn gọi là báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu các năm 2003, 2004, 2005, 2008 và 2010), đánh dấu vai trò ngày càng quan trọng của chính phủ điện tử trong phát triển kinh tế-xã hội.

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2003 (UN Global E-government Survey 2003)

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2003 do Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội thuộc Liên hiệp quốc xây dựng dựa trên báo cáo “Đánh giá chính phủ điện tử từ khía cạnh toàn cầu” ('Bench-Marking E-government: A Global Perspective') được ấn hành vào năm 2002. Được biên tập thành phần II của báo cáo về lĩnh vực công thế giới năm 2003 với chủ đề chính phủ điện tử tại ngã rẽ, báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2003 cung cấp đánh giá trạng thái cạnh tranh của mức độ sẵn sàng về chính phủ điện tử cũng như đánh giá mức độ tham gia của người dân trong bối cạnh toàn cầu hóa mạnh mẽ. Báo cáo được xây dựng hướng tới những mục tiêu chính như sau:

-      Cung cấp bức tranh hiện trạng về thực tế sẵn sàng chính phủ điện tử của các nước trên thế giới;

-      Thúc đẩy ứng dụng chính phủ điện tử trong cung cấp các dịch vụ công;

-      Thực hiện đánh giá nỗ lực cũng như năng lực của chính phủ trong thúc đẩy cộng đồng tham gia vào các hoạt động của chính phủ trên môi trường mạng;

-      Cung cấp công cụ đánh giá nhằm theo dõi quá trình chuyển đổi hình thức cung cấp dịch vụ công của các nước.

Trong báo cáo này, Việt Nam được xếp ở vị trí 98 với 0.357 điểm so với mức trung bình chung 0.437. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cùng với Brunei Darussalam, Indonesia và Đông Timor nằm ở mức dưới trung bình với chỉ số chính phủ điện tử chỉ bằng 20 đến 25% chỉ số của những nước xếp hạng hàng đầu. Cần lưu ý là thông tin về các chỉ số của Việt Nam đã không được thu thập đầy đủ cũng như không được mô tả rõ ràng trong báo cáo. Vì vậy, mặc dù được đánh giá các chỉ số thành phần như chỉ số trang thông tin điện tử, chỉ số viễn thông và chỉ số nhân lực lần lượt đạt 0.183, 0.048 và 0.84 (trong phần Phụ lục), Việt Nam lại không có mặt trong bảng phân tích chi tiết về hiện trạng chính phủ điện tử các nước trong khu vực.

Tuy nhiên có thể thấy trong các nước ở khu vực, trừ Nhật Bản và Hàn Quốc, các nước còn lại đều có sự mất cân đối giữa các chỉ số thành phần mà lý do chính đó là việc thiếu kinh phí đầu tư và vận hành dẫn đến hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực chưa theo kịp với nhu cầu phát triển chính phủ điện tử. Ở các nước có đặc điểm kinh tế tương đối tương đồng với Việt Nam như Indonesia, Philippines, Thái Lan chỉ số về viễn thông đều khá thấp (<0.12) thua kém hơn rất nhiều các nước dẫn đầu như Hàn Quốc (0.67) hoặc Nhật Bản (0.62). Chỉ số về viễn thông của Việt Nam thấp (nếu tính riêng lĩnh vực này Việt Nam đứng ở vị trí 115) chủ yếu là do Việt Nam có mật độ người dân sở hữu máy tính thấp (khoảng 9.8 máy/1000 dân) và số lượng người dân có khả năng truy cập Internet còn chưa cao (khoảng 4.9 thuê bao/1000 dân). Để có thể cải thiện chất lượng chính phủ điện tử, Việt Nam cần phải tích cực đầu tư, mở rộng hạ tầng thông tin, đảm bảo kết nối rộng khắp và hiệu quả nhằm cung cấp thông tin đến mọi đối tượng, mọi vùng địa lý của quốc gia.

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2004 (UN Global E-government Survey 2004)

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2004 được bố cục gồm hai nội dung chính: khảo sát mức độ sẵn sàng về chính phủ điện tử và tập trung vào làm rõ nguyên nhân gây ra sự chênh lệch giữa các quốc gia trong lĩnh vực chính phủ điện tử (bao gồm các vấn đề về các bên liên quan, thể chế, quy chế, cơ hội,…). Cũng như báo cáo năm 2003, báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2004 cũng sử dụng chỉ số điều tra đánh giá năng lực và nỗ lực của các cơ quan nhà nước trong triển khai ứng dụng CNTT trong cung cấp thông tin và dịch vụ công để xếp hạng các nước.

Khu vực Đông Nam và Nam Á được đánh giá là có mức độ phát triển cao hơn mặt bằng chung của quốc tế, tuy nhiên chính ở đây cũng tồn tại sự khác biệt khá lớn giữa những nước ở tốp đầu và tốp dưới. Trong lĩnh vực chính phủ điện tử, nếu Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản chiếm vị trí đầu tiên với các giá trị chỉ số lần lượt là 0.858, 0.834 và 0.726 thì Lào và Đông Timor chỉ đạt 0.2329 và 0.046. Với chỉ số 0.3378 cách mức trung bình chung 0.4603 ở khoảng cách khá xa, thứ hạng của Việt Nam đã bị giảm 15 bậc xuống vị trí 112. Trong khu vực Đông Nam và Nam Á, Việt Nam được xếp thứ 11 trên tổng số 15 nước, chỉ trên có Myanmar (vị trí 123), Cămpuchia (vị trí 129), Lào (vị trí 144) và Đông Timor (vị trí 174). Lý do căn bản cho sự thụt hạng của Việt Nam ở chỗ trong thời gian từ năm 2003 đến 2004 Việt Nam đã không bắt kịp với nhịp độ phát triển trang thông tin điện tử cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến cho người dân của các nước trên thế giới. Đặc biệt các thông tin liên quan đến giáo dục trong niên khóa 2003 đã không được cung cấp hoặc cập nhật tại thời điểm 2004.

Việt Nam đã không có mặt trong nhóm 25 quốc gia hàng đầu về cung cấp thông tin và dịch vụ công trên trang thông tin điện tử, cũng như trong nhóm 38 quốc gia có cung cấp thanh toán trực tuyến. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là Việt Nam cũng không nằm trong 41 nước có mức độ sử dụng trang thông tin điện tử thấp nhất. Việt Nam được đánh giá là chưa có những chính sách khuyến khích người dân tham gia vào chính phủ điện tử, đồng thời không cung cấp kênh phản hồi cho người dân và hỗ trợ giải đáp thắc mắc qua mạng.

Hạ tầng viễn thông của Việt Nam cũng được đánh giá là chưa đủ mạnh khi hầu hết các chỉ số như về dữ liệu Internet (giao dịch và băng thông), người dùng Internet, số lượng máy tính và số máy tính trung bình đều ở các mức rất thấp. Chỉ số về điện thoại cố định và điện thoại di động tuy có khả quan hơn nhưng vẫn còn dưới mặt bằng của khu vực. Đây tiếp tục là một trong những mặt còn hạn chế gây trở ngại đáng kể của Việt Nam trong phát triển chính phủ điện tử.

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2005 (UN Global E-government Survey 2005)

Truy cập thông tin và các phương tiện truyền thông một cách dễ dàng được xem như là một phương thức quan trọng giúp giảm bớt đói nghèo do khả năng tạo ra việc làm và thu nhập cho những người nghèo, cung cấp các dịch vụ sức khỏe và giáo dục có chất lượng, và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, tại thời điểm báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2005 được xây dựng đã chứng kiến sự cách biệt ngày càng tăng về ưu thế xã hội giữa những người có khả năng truy cập môi trường điện tử và những người có khả năng đó. Điều này dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong kinh tế cũng như xã hội, có ảnh hưởng tiêu cực đến các tổ chức gắn kết vào các yếu tố kinh tế và văn hóa. Báo cáo năm 2005 cũng chỉ ra được mối liên hệ giữa yếu tố giàu nghèo của kinh tế và thực tế phát triển chính phủ điện tử, khi những nước phát triển thường có đủ kinh phú để đầu tư, phát triển hạ tầng thông tin và nguồn nhân lực phù hợp. Các nước đang phát triển có xu hướng chỉ tập trung vào cung cấp khả năng tiếp cận thông tin của người dân.

Thứ hạng về chính phủ điện tử của Việt Nam tại lần đánh giá này đã có bước tiến mạnh, tăng 7 bậc trên bảng xếp hạng. Tuy vậy, với giá trị là 0.3640, chỉ số của Việt Nam vẫn nằm ở khoảng cách khá xa với chỉ số trung bình chung thế giới là 0.4922. Tại khu vực Đông Nam và Nam Á, Việt Nam vẫn đứng thứ 11 trên tổng số 15 nước. Hàn Quốc xếp thứ nhất khu vực với 0.8727, theo sau là Singapore với 0.8503. So với các khảo sát được tiến hành vào thời điểm trước đó, Việt Nam tuy đạt được một số kết quả nhất định nhưng vẫn được xếp ở dưới mức trung bình chung. Biểu hiện rõ nhất là còn tồn tại khá nhiều trang thông tin của cơ quan nhà nước không thể truy cập được và vẫn chưa có trang thông tin của quốc gia (phản ánh ở chỉ số trang thông tin điện tử của Việt Nam chỉ được đánh giá là 0.2231). Trang thông tin của Văn phòng quốc hội tại địa chỉ http://www.na.gov. vn chỉ hoạt động như một trang tổng hợp các đường dẫn. Ở một khía cạnh nào đó, trang thông tin này cũng có giá trị nhất định trong thúc đầy người dân tham gia vào hoạt động của chính quyền bằng cách đóng góp ý kiến trực tiếp về tình trạng xã hội và hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cách thức này không được coi là một giải pháp có tính lâu dài, bền vững như cổng thông tin quốc gia do hoàn toàn thiếu khả năng cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến (tương tác) có chất lượng.

Nói chung, số liệu thu thập về hiện trạng sẵn sàng chính phủ điện tử ở Việt Nam mới chỉ giới hạn trong phạm vi các bộ ngành. Một số điển hình có thể kể đến là trang thông tin Bộ Y tế (địa chỉ trang thông tin tại http://www.moh.gov.vn), trang thông tin Bộ Tài chính (địa chỉ trang thông tin tại http://www.mof.gov.vn). Trang thông tin Bộ Y tế cung cấp thông tin khá chất lượng cũng như các được liên kết có giá trị, mô tả kế hoạch, chiến lược hàng năm. Tuy nhiên trang thông tin này có hạn chế là ở trạng thái tĩnh, không có các dịch vụ đúng nghĩa. Tương tự, trang thông tin Bộ Tài chính cũng có thiết kế tĩnh, nhưng cũng cung cấp nhiều thông tin liên quan đến kinh phí, xu hướng tỷ giá trao đổi ngoại tệ, và một chuyên mục giải đáp câu hỏi.

Về các chỉ số thành phần khác như hạ tầng và nhân lực Việt Nam không có sự thay đổi đáng kể nào so với năm 2004. Nhân lực vẫn là một thế mạnh của Việt nam (điểm số 0.82) và hạ tầng (0.049) vẫn còn là tồn tại đối với quá trình xây dựng chính phủ điện tử. Để tiếp tục phát triển, bắt kịp với tiến bộ của các nước trong lĩnh vực phát triển điện tử, Việt Nam cần phải tiếp tục cam kết cải cách hành chính, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đẩy mạnh các chương trình thúc đẩy, triển khai nhiều hơn nữa các hoạt động về chính phủ điện tử.

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2008 (UN Global E-government Survey 2008)

Với chỉ số đạt giá trị 0.4558, Việt Nam đã có bước tăng đáng kể trên bảng xếp hạng chung từ vị trí 105 năm 2005 (điểm số 0.3640) lên vị trí 91 năm 2008. Điểm số này cũng cao hơn mức điểm chung bình chung của khu vực (là 0.4290) cũng như của thế giới (là 0.4514). Điểm số của Việt Nam được tổng hợp từ chỉ số trang thông tin điện tử (0.4448), chỉ số hạ tầng (0.1081), và chỉ số nhân lực (0.8150).

So với thời điểm năm 2005, chỉ số về trang thông tin điện tử và chỉ số về hạ tầng đã có bước tăng đáng kể (hơn 100%) từ điểm số là 0.22 và 0.048. Cụ thể, Việt nam đã có nhiều trang thông tin điện tử  hơn và có mức độ tương tác cao hơn (chủ yếu mức 2 và 3). Việt Nam được đánh giá 0.194 về chỉ số Internet (tương đương 17.21 thuê bao/100 dân), 0.015 về chỉ số máy tính (1.39 máy tính/100 dẫn), 0.117 về chỉ số điện thoại di động (18.17 thuê bao/100 dân), 0.195 về chỉ số điện thoại cố định (18.81 thuê bao/100 dân) và 0.019 về chỉ số băng rộng (0.61 thuê bao/100 dân).

Về nguồn nhân lực, với hơn 90% người trưởng thành biết đọc, viết Việt Nam được đánh giá khá cao về chỉ số này. Có thể thấy từ lần đánh giá năm 2003 tới này, chỉ số nguồn nhân lực của Việt Nam khá ổn định ở mức cao (>0.80) và có xu hướng đi lên. Điều này chứng tỏ thế mạnh của Việt Nam trong việc trở thành một quốc gia phát triển về chính phủ điện tử. Mức độ tham gia trực tuyến của người dân tại Việt Nam cũng được đánh giá khá cao khi xếp ở vị trí thứ 16 với điểm số 0.5227 (tăng 47 vị trí so với lần đánh giá trước đó năm 2005), cùng hạng với các nước Hà Lan, Na Uy. Tuy vậy, so với các nước có điều kiện kinh tế tương đương là Thái Lan, Philippines, Việt Nam vẫn còn cách khoảng cách khá xa tuy rằng những nước này đã có sụt giảm đáng kể về thứ hạng, tương ứng từ các vị trí 46, 41 năm 2005 xuống 64, 66 năm 2010.  Trường hợp Indonesia lại có bức tranh trái ngược với Việt Nam khi từ vị trí 96 năm 2008 giảm xuống vị trí thứ 106 năm 2010. Singapore giữ vị trí cao nhất khu vực với điêm số là 0.7009. Lý giải cho điều này là trong khi các nước đang phát triển như Việt Nam mới chỉ đang tập trung phổ biến rộng rãi trang thông tin điện tử ở cơ quan nhà nước thì Singapore đã tiến một bước để liên kết các trang này nhằm tạo ra môi trường truy cập thống nhất, thuận tiện cho người dân thông qua hệ thống singpass.

Việt Nam cũng được xếp vào nhóm các nước có mức độ sử dụng chính phủ điện tử trung bình thấp.

Báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2010 (UN Global E-government Survey 2010)

Cuối tháng 4/2010, báo cáo điều tra chính phủ điện tử toàn cầu năm 2010 được công bố. Theo đó,  chỉ số phát triển chính phủ điện tử  của Việt Nam đã tăng một bậc từ hạng 91 trong báo cáo năm 2008 lên hạng 90 trên tổng số 192 nước được xếp hạng. Vẫn như các lần trước, mặc dù có sự điều chỉnh về các câu hỏi khảo sát (tăng từ 86 năm 2008 lên 95 câu năm 2010), chỉ số chính phủ điện tử vẫn được đánh giá thông qua chỉ số dịch vụ công trực tuyến, chỉ số hạ tầng viễn thông và chỉ số nguồn nhân lực dành cho phát triển Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, so với báo cáo năm 2008, chỉ số chính phủ điện tử của Việt Nam năm 2010 đã giảm 0.0104 điểm, còn ở mức 0.4454. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á, đứng sau các nước Singapore (0.7476 – hạng 11), Malaysia (0.6101 – hạng 32), Brunei (0.4796 – hạng 68), Thái Lan (0.4653 – hạng 76), Philippines (0.4637 – hạng 78) và trên Indonesia (0.4026 – hạng 109). Khoảng cách giữa Việt Nam và các nước Brunei, Thái Lan đã được thu hẹp đáng kể. Các điểm số cụ thể của Việt Nam được đánh giá như sau: về chỉ số dịch vụ công trực tuyến là 0.3048 đứng vị trí 79, chỉ số hạ tầng viễn thông là 0.2261 ở vị trí 79 và chỉ số nguồn nhân lực là 0.8098 ở vị trí 114. Ở đây do các chỉ số được định nghĩa lại nhằm thể hiện mức độ tương quan giữa các nước với nhau nên không thể so sánh chỉ số với các lần đánh giá trước. Nguồn nhân lực của Việt Nam đã không còn là ưu thế trong lĩnh vực chính phủ điện tử nữa.

 Với chủ đề Tác động của chính phủ điện tử trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới (Leveraging e-government at a time of financial and economic crisis), báo cáo lần này tập trung vào các vấn đề chính như phát triển và ứng dụng chính phủ điện tử trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và kinh tế, xu thế phát triển chung và triển vọng cho tương lai của chính phủ điện tử. Kết quả của báo cáo cho thấy chính phủ điện tử đã và đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu trợ giúp lãnh đạo chính phủ các nước phản ứng tốt hơn trong cơn bão khủng hoảng. Các dịch vụ cung cấp thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, các công cụ hỗ trợ hoạt động hợp tác, kích thích sự tham gia của người dân vào các hoạt động bình ổn của chính phủ đã góp phần giúp các quốc gia nằm trong ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới dần lấy lại được sự ổn định xã hội.

Hiện nay trên thế giới khá nhiều nước đã định hình chiến lược phát triển chính phủ điện tử cấp quốc gia và hoạch định các kế hoạch hành động dài hạn. Chính vì vậy, so với các báo cáo trước đây, các tiêu chí trong báo cáo năm 2010 đã chuyển từ đánh giá mức độ sẵn sàng của chính phủ điện tử (phản ánh khả năng, tiềm năng trước khi tiến hành xây dựng chính phủ điện tử) sang đánh giá mức độ phát triển của chính phủ điện tử. Năm 2010 chứng kiến sự biến chuyển vượt bậc về công nghệ di động, băng rộng và mạng không dây. Việc đáp ứng nhu cầu cá nhân về truy cập thông tin, dịch vụ và mạng xã hội (on-demand access) dần được coi là tất yếu. . Một số điểm khác biệt trong năm 2010 có thể kể tới xu hướng phổ biến lấy người dân làm trọng tâm, cuộc cách mạng về công nghệ di dộng, sự phổ biến của hoạt động truy cập thông tin, dịch vụ và mạng xã hội trên Internet của cộng đồng. Tuy nhiên, thực tế là, khi đánh giá các trang tin điện tử của chính phủ, hầu hết chính phủ các nước vẫn  tập trung vào nâng cao khả năng cung cấp thông tin trực tuyến hoặc qua thiết bị di động thay vì đầu tư vào các dịch vụ có tính tương tác mức độ cao. Các trang thông chính phủ có chức năng diễn đàn trao đổi hoặc trao đổi thông tin với các mạng xã hội còn hạn chế. Vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực về CNTT cũng vẫn còn nóng bỏng, đặc biệt là tại những nước đang và chậm phát triển.

Báo cáo năm 2010 cũng đưa ra một số nhận đinh về triển vọng phát triển trong tương lai của chính phủ điện tử. Theo đó, chính phủ điện tử sẽ thu được sự quan tâm và ưu tiên cao trên toàn cầu. Những tiêu chí đánh giá mức độ phát triển chính phủ điện tử sẽ tập trung vào việc lấy người dân làm trọng tâm, toàn diện, chính phủ kết nối, kết nối khắp mọi nơi và ứng dụng công nghệ cao.

Đánh giá của tổ chức viễn thông quốc tế ITU

Kể từ năm 2002, Tổ chức viễn thông quốc tế ITU thường xuyên thực hiện báo cáo đánh giá xã hội thông tin (Information Society) dưới dạng chỉ số phát triển công nghệ thông tin và truyền thông (ICT development index). Chỉ số IDI cho phép nắm bắt mức độ phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông của hơn 150 nước trên thế giới, qua đó lãnh đạo các quốc gia này đánh giá kết quả phát triển xã hội thông tin cũng như theo dõi tiến trình toàn cầu hóa thu hẹp khoảng cách số. Chỉ số IDI gồm 11 chỉ số thành phần đánh giá khả năng truy cập (mật độ điện thoại cố định, mật độ điện thoại di động, băng thông Internet quốc tế, mật độ hộ gia đình có máy tính, mật độ hộ gia đình kết nối Internet), sử dụng (số thuê bao Internet, thuê bao băng rộng, thuê bao băng rộng di động) và kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (tỉ lệ người biết đọc, tốt nghiệp phổ thông, tốt nghiệp đại học). Điểm khác với những báo cáo của Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội thuộc Liên hiệp quốc là ITU chủ yếu tập trung vào hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, đánh giá mức độ phát triển của công nghiệp công nghệ thông tin và các yếu tố liên quan, thay vì đánh giá kết quả và hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin và chính phủ điện tử.

         

Báo cáo đánh giá xã hội thông tin năm 2009

ITU đánh giá cao nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong thời gian 2002 đến 2009, khi nhìn nhận công nghệ thông tin và truyền thông là một động lực chính trong phát triển kinh tế xã hội. Việt Nam đã có bước tăng trưởng tới 15 bậc từ vị trí 107 của lần đánh giá trước đó lên vị trí 92 của lần đánh giá này. Chỉ số thành phần về khả năng truy cập của Việt Nam đã tăng từ vị trí 118 năm 2002 với 1.05 điểm lên vị trí 90 với 2.89 điểm; chỉ số thành phần về sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông tăng từ vị trí 105 với 0.06 điểm lên vị trí 74 với 0.74 điểm (xấp xỉ Thái Lan với 0.76 điểm). Một trong những biến đổi rõ nhất đó là sự gia tăng một cách chóng mặt số lượng thuê bao di động, hơn mười lần. Nếu tại năm 2002 mới chỉ có dưới 2 triệu thuê bao thì đến năm 2007 đã có hơn 24 triệu. Cùng với sự tiếp tục đầu tư của nhà mạng, số lượng thuê bao di dộng vẫn hứa hẹn tiếp tục gia tăng trong thời gian tiếp theo. Thời gian 2002-2007 cũng chứng kiến sự bùng nổ của Internet tại Việt Nam. Tính đến cuối năm 2007 đã có 20 phần trăm dân số truy cập Internet, so với chỉ 1.8% năm 2002, đặt Việt nam vào cùng nhóm những quốc gia có thu nhập tương đương và có cùng độ phát triển về thuê bao điện thoại di động và Internet. Ngoài ra, mức độ tăng trưởng thuê bao cố định cũng đóng góp tích cực vào sự nhảy bậc của Việt Nam trên bảng xếp hạng ITU.

Lý giải cho sự gia tăng của di động và Internet chính là yếu tố kinh tế khi trong vòng 5 năm, thu nhập bình quân của người dân Việt nam đã tăng gần như 2 lần (từ 430$ năm 2002 lên 790$ năm 2007). Là nước có tỉ lệ người trẻ tuổi cao, những người thường có thu nhập cũng nhu cầu sử dụng công nghệ, thị trường công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đang xảy ra sự cạnh tranh mạnh mẽ. Tự do hóa thị trường giúp tạo thị trường cạnh tranh, minh bạch và không hạn chế nhà đầu tư vào công nghệ (như cung cấp dịch vụ truy cập Internet).

Để có những kết quả này, chính phủ Việt Nam đã có cam kết rất mạnh mẽ coi phát triển công nghệ thông tin và truyền thông là một trong những mục tiêu được ưu tiên hàng đầu của quốc gia. Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tới năm 2010. Đây là chiến lược tổng thể gắn kết hạ tầng, công nghiệp, ứng dụng và nguồn nhân lực để đảm bảo mục tiêu phát triển với phạm vi đối tượng bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và người dân.

Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số điểm tiêu cực. Chỉ số về kỹ năng của Việt Nam tăng rất chậm trong thời gian 2002-2007, thấp hơn mặt bằng chung của quốc tế, đã khiến thứ hạng của Việt Nam giảm từ vị trí 95 với 5.73 năm 2002 xuống vị trí 102 với 5.76. Kết quả này cũng hoàn toàn tương đồng với những gì được Cục các vấn đề về kinh tế và xã hội báo cáo năm 2010. Ngoài ra, giá trị thị trường công nghệ thông tin và truyền thông của Việt Nam cũng không cao khi chỉ được xếp ở vị trí 102. Điều này phản ánh thực trạng thiếu bền vững của phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam.

          

Báo cáo đánh giá xã hội thông tin năm 2010

Thứ hạng của Việt Nam tại báo cáo đánh giá xã hội thông tin năm 2010 tiếp tục tăng, lên vị trí 86 từ vị trí 92 của năm 2009. Ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương, Việt Nam cũng có thứ hạng thuộc nửa trên bảng xếp hạng, cao hơn các nước có điều kiện kinh tế tương đồng như Philippines và Indonesia. Cần lưu ý là về chỉ số chính phủ điện tử, Việt Nam trong các báo cáo của Cục các vấn đề về  kinh tế và xã hội vẫn đứng sau Philippines. Với điểm số IDI là 3.05, giữa Việt Nam và Hàn Quốc (nước đứng đầu với điểm số 7.68) vẫn còn sự khác biệt rất lớn.

Nguyên nhân của sự tăng trưởng này dựa trên chỉ số thành phần truy cập đã tăng 20 bậc, trong khi mất 9 bậc ở chỉ số sử dụng và 1 bậc ở chỉ số kỹ năng. Đặc biệt số lượng thuê bao di động đã tăng chóng mặt từ mật độ 28 thuê bao lên 80 thuê bao trên 100 dân, cũng như băng thông quốc tế từ 700 lên 2.400 bit/giây đối với 1 người sử dụng. Việt Nam mặc dầu được xếp vào những nước có chỉ sổ IDI thấp nhưng lại được ghi nhận về tiến bộ trong phát triển xã hội thông tin, thể hiện ở sự gia tăng vượt bậc về số lượng thuê bao điện thoại (di động và cố định), số người sử dụng máy tính và mở rộng băng thông Internet. Tuy nhiên, tại thời điểm thu thập số liệu, Việt Nam chưa cung cấp truy cập Internet băng rộng qua di động, trong khi dịch vụ 3G đã có mặt tại thị trường từ cuối năm 2009. Điều này chứng tỏ có độ trễ khá lớn giữa công tác thu thập số liệu và công bố các phân tích, xếp hạng. Với việc 3G ngày càng phổ biến ở Việt Nam, trong thời gian tới vị trí của Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục được nâng cao. Tuy nhiên, để đảm bảo tính bền vững Việt Nam cần cân nhắc cải thiện các chính sách pháp lý đối với mạng băng rộng, tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho băng rộng di động cũng như công nghệ không dây, khuyến khích cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ, tăng cường kêu gọi đầu tư và sử dụng các nguốn vốn hỗ trợ để mang băng rộng tới nông thôn và vùng sâu vùng xa, đẩy mạnh nhận thức về dịch vụ công trực tuyến và cho phép địa phương hóa thông tin để giảm thiểu sự phụ thuộc vào các kết nối thông tin ra nước ngoài, khuyến khích người dân truy cập tới các dịch vụ và ứng dụng phù hợp.

Việt Nam được xếp vào nhóm các nền kinh tế có chỉ số IDI trung bình cùng với Trung Quốc, Mexico, Phillippines, Indonesia, Thái Lan... Trong khu vực Đông Nam Á, chỉ có Singapore thuộc nhóm có chỉ số IDI cao, và Malaysia, Brunei thuộc nhóm có chỉ số IDI khá. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng bị đánh giá là đang bị tụt hậu về phát triển viễn thông so với thế giới. Thị trường công nghệ  thông tin và truyền thông của Việt Nam đứng thứ 114, một vị trí khá thấp, do chi phí sử dụng so với thu nhập vẫn thuộc loại cao cho dù được đánh giá tốt về nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực.

Nhận xét

Phân tích tình hình xếp hạng chỉ số phát triển của Việt Nam của các cơ quan tổ chức quốc tế trong thời gian qua, có thể nhận ra một số điểm như sau.

Tình hình phát triển chính phủ điện tử hay công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, tốc độ phát triển dần bắt kịp với tốc độ trung bình của thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông. Việt Nam có ưu thế là nước có trình độ dân trí cao, chính phủ có cam kết mạnh mẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động. Tuy nhiên hiệu quả các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin chưa cao, bằng chứng là tỷ lệ người dân tham gia vào giao dịch trực tuyến thông qua trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước còn thấp. Hạ tầng viễn thông dù được cải thiện nhanh chóng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, giá thành viễn thông còn cao so với thu nhập. Nền công nghiệp công nghệ thông tin chưa đủ mạnh.

Các chỉ số được thu thập tuy ở khía cạnh nào đó được xem là chính xác nhưng thường có độ trễ lớn (khoảng thời gian giữa hai thời điểm thu thập và công bố lớn) (như trong các số liệu ITU) hoặc không thu thập đủ các thông tin (dịch vụ công trực tuyến trong báo cáo của Liên hiệp quốc). Việt Nam cũng không có đại diện tham gia vào quá trình thu thập, tổng hợp và rà soát số liệu. Các chỉ số thành phần giữa các tổ chức khác nhau chưa có mối liên hệ với nhau (một phần là do mục đích khảo sát khác nhau và cũng do các lý do chính trị), do vậy khó có thể đánh giá chính xác thực trạng của Việt Nam trong mối tương quan quốc tế. Các hoạt động đánh giá này cũng không phối hợp hoặc kết hợp với các hoạt động điều tra khảo sát do Việt Nam tiến hành thường niên như xây dựng sách trắng, báo cáo Việt Nam - ICT index, đánh giá trang thông tin điện tử, điều tra số liệu Internet. Do vậy, cần thiết phải các biện pháp tiếp cận và thúc đẩy tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế phân tích đánh giá về ICT trong việc đưa ra các chỉ số phát triển có lợi cho ngành ICT Việt Nam.


(Cục Ứng dụng CNTT)

Lượt xem:  2,860 Google Bookmarks Google Bookmarks Bản in Quay lại

Các tin đã đưa
Trang 1 / 2 1 2
Xem theo ngày :
SỰ KIỆN NỔI BẬT