Hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong triển khai chính phủ điện tử
Theo số liệu thống kê, hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỷ lệ cán bộ, công chức được trang bị máy tính làm việc khá cao khoảng 88%. Hiện tại, 100% các đơn vị đã trang bị máy tính, tỷ lệ máy tính kết nối mạng cao và đạt 88.5%. Tuy nhiên, một số đơn vị có nhu cầu bảo mật thông tin hoặc đặc điểm hoạt động chuyên môn đặc thù nên không kết nối toàn bộ các máy tính vào mạng Internet mà chú trọng hơn vào kết nối thông tin qua các mạng nội bộ, ví dụ như Ngân hàng Nhà nước. Nói chung, mức độ trang bị máy tính và kết nối Internet tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ tương đối ổn định và tăng trưởng đều đặn qua các năm.
Tính đến năm 2010, có 100% cơ quan cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ đã vận hành và sử dụng mạng thông tin nội bộ (LAN) để gửi, nhận và lưu chuyển thông tin cho các mục đích cụ thể, riêng biệt. Song song với việc sử dụng mạng thông tin nội bộ, các cơ quan cũng đã chú trọng lắp đặt các hệ thống và công cụ bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong quá trình trang bị cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho khai thác và ứng dụng CNTT. 100% các cơ quan thuộc diện khảo sát đã cài đặt phần mềm diệt virus cho các máy tính tại cơ quan, nhưng tỉ lệ máy tính được trang bị công cụ đảm bảo an toàn mới chỉ đạt 81.5%. Mặc dù vậy, ở một số đơn vị tỉ lệ này còn rất thấp. Về vấn đề bảo mật, 96% cơ quan sử dụng hệ thống tường lửa, hệ thống phát hiện, phòng chống truy cập trái phép; 90% cơ quan sử dụng phần mềm quét, lọc thư rác trong hệ thống thư điện tử sử dụng tại cơ quan; 86% cơ quan sử dụng hệ thống an toàn dữ liệu trong mạng cục bộ như tủ/băng đĩa/SAN/NAS.
Như vậy, hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu công việc của cán bộ, công chức. Ngoài ra, một số đơn vị tiêu biểu đã trang bị được cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở mức tiên tiến, hiện đại.
Trong những năm qua, việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật CNTT ở các cơ quan nhà nước tại các địa phương đã được các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm. Tỉ lệ trung bình máy tính/cán bộ của các địa phương (tính đến cấp sở, ban, ngành, quận, huyện) trên toàn quốc là đạt 64.0%; tỉ lệ máy tính kết nối Internet trung bình của các địa phương trên toàn quốc đạt 85.9%. Do phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lý khác nhau nên vẫn còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn về hạ tầng máy tính và kết nối mạng giữa các địa phương trên cả nước.
Về trang bị máy tính, hiện có 38.1% các tỉnh, thành phố có tỉ lệ máy tính/cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC); đạt trên 80% (khoảng mỗi người có 1 máy tính);39.7% tỉnh thành có tỉ lệ máy tính/CBCCVC trong khoảng từ 50%-80% (khoảng 2 người có 1 máy tính); 22,2% tỉnh thành có tỉ lệ máy tính/CBCCVC đạt dưới 50%.
Về kết nối mạng, hiện có 71,4% tỉnh, thành phố có mức độ máy tính kết nối Internet ở mức trên 80%; 25,4% tỉnh, thành có mức độ máy tính kết nối ở mức 50%-80%; 3,2% tỉnh, thành có mức kết nối dưới 60%. Tính đến năm 2010, đã có 13 địa phương xây dựng được hệ thống mạng kết nối tới 100% các máy tính là Hà Nội, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Hải Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Kiên Giang, Lào Cai, Lâm Đồng, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Bình và Thái Nguyên.
Về đảm bảo an toàn cho hệ thống thông tin, đã có 97% tỉnh thành đã vận hành và sử dụng mạng thông tin nội bộ (LAN) để gửi, nhận và lưu chuyển thông tin. Hầu hết các đơn vị tham gia khảo sát đã cài đặt phần mềm diệt virus cho các máy tính tại cơ quan, 90% cơ quan sử dụng hệ thống tường lửa cơ bản, hệ thống phát hiện, phòng, chống truy cập trái phép, 63% cơ quan sử dụng phần mềm quét, lọc thư rác trong hệ thống thư điện tử sử dụng tại cơ quan, 70% cơ quan sử dụng hệ thống an toàn dữ liệu trong mạng cục bộ như tủ/băng đĩa/SAN/NAS.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn về trang bị bảo đảm an toàn, an ninh cho hệ thống thông tin giữa các tỉnh, thành phố. Có những tỉnh đã trang bị hệ thống an toàn cho 100% hệ thống máy tính và mạng nội bộ như Tp.Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thừa Thiên Huế, v.v.. Trong khi đó, một số tỉnh có trang thiết bị được bảo vệ an toàn còn rất thấp như Sơn La, Yên Bái, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, v.v.. Mức tỉ lệ mạng nội bộ được bảo đảm an toàn trung bình chỉ đạt khoảng 29%.
Tiếp nối thành công từ những năm trước, tính tới năm 2010 hầu hết các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã tận dụng, lắp đặt và từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng để triển khai hệ thống thư điện tử. 100% các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã triển khai hệ thống thư điện tử phục vụ cho công việc. Trừ một số cơ quan, do điều kiện đặc thù riêng trong công việc nên không triển khai hệ thống thư điện tử mà chỉ sử dụng mạng nội bộ như Bộ Quốc phòng.
Đối với các cơ quan đã triển khai sử dụng hệ thống thư điện tử, tỉ lệ cán bộ, công chức, viên chức được cấp hòm thư điện tử và thường xuyên sử dụng hòm thư điện tử trong công việc tại các Bộ ở mức cao; hiệu quả sử dụng hệ thống thư điện tử ngày một nhiều. Trung bình mức tỉ lệ cán bộ công chức, viên chức được cấp hộp thư điện tử ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ (tính đến cấp đơn vị trực thuộc) là 85%, trung bình mức tỉ lệ cán bộ thường xuyên sử dụng hộp thư điện tử trong công việc là 79%. Bộ có tỉ lệ cán bộ thường xuyên sử dụng thư điện tử trong công việc cao nhất là 100% (có 7 Bộ), Bộ có tỉ lệ thấp nhất là 10%. Có 85% các cơ quan Bộ đạt tỉ lệ trang bị hộp thư điện tử cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ở mức từ 80% trở lên. Tại nhiều đơn vị, 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng thành thạo hệ thống thư điện tử cho công việc.
Bên cạnh ứng dụng thư điện tử, công tác tin học hóa hoạt động chỉ đạo, điều hành công việc qua mạng cũng được các Bộ, ngành quan tâm – chú trọng. Tính tới thời điểm tháng 12/2010 đã có 100% các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã đưa các thông tin chỉ đạo, điều hành công việc lên môi trường mạng. Hầu hết, các đơn vị đã triển khai hệ thống quản lý văn bản trên môi trường mạng Internet. Tuy nhiên, tỉ lệ trung bình văn bản đi/đến được chuyển hoàn toàn trên môi trường còn rất thấp, mới chỉ đạt 24%.
Các Bộ đã trang bị phần mềm và hệ thống CNTT để hỗ trợ xử lý công việc trong các lĩnh vực chuyên môn. Số lượng các đơn vị triển khai với mỗi ứng dụng nội bộ tương đối cao (với mỗi ứng dụng nội bộ, ít nhất có 47% số Bộ ngành triển khai sử dụng).
Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tỉ lệ trung bình cán bộ, công chức các tỉnh, thành phố được cấp hộp thư điện tử là 75%. Tỉ lệ trung bình cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng thư điện tử cho công việc là 62%. Do điều kiện kinh tế và địa lý của các địa phương trên cả nước là khác nhau, nên vẫn còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn trong việc cung cấp và sử dụng hộp thư điện tử. Cụ thể, địa phương có tỉ lệ cán bộ, công chức được cấp thư điện tử cao nhất là 100%. Trong khi đó, địa phương có tỉ lệ thấp nhất chỉ đạt 20%. Thậm chí, còn một số tỉnh chưa tạo lập được hộp thư điện tử chính thức cho cơ quan như Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Đắk Nông. Tại những tỉnh này, hầu hết cán bộ, công chức hiện đang sử dụng dịch vụ hộp thư điện tử miễn phí trong trao đổi công việc.
Về ứng dụng CNTT để tin học hóa hoạt động chỉ đạo, điều hành công việc trong cơ quan nhà nước tại các tỉnh, thành phố: 90% các tỉnh, thành phố đã đưa thông tin chỉ đạo, điều hành lên môi trường mạng Internet. Tuy nhiên, chỉ có 25,81% đơn vị được đánh giá là cung cấp đầy đủ các thông tin chỉ đạo điều hành lên cổng/trang thông tin điện tử. Mức chênh lệch giữa các địa phương về tỉ lệ văn bản được chuyển hoàn toàn trên môi trường mạng và tỉ lệ thực hiện các cuộc họp trực tuyến khá cao. Tỉ lệ trung bình văn bản đi/đến được chuyển hoàn toàn trên môi trường mạng ở các tỉnh, thành phố đạt 30,5%; tỉ lệ trung bình các cuộc họp trực tuyến trên tổng số các cuộc họp diện rộng được thực hiện ước khoảng 42,1%.
Trong công việc thường nhật và các tác vụ chuyên môn, ứng dụng CNTT góp phần đảm bảo tính chính xác, tăng cường tốc độ và hiệu quả xử lý công việc. Hiện nay, tại các Bộ và cơ quan ngang Bộ đã trang bị phần mền và hệ thống CNTT để hỗ trợ xử lý công việc trong các lĩnh vực chuyên môn. Do hiệu quả tích cực mà ứng dụng CNTT mang lại nên số lượng các đơn vị triển khai với mỗi ứng dụng nội bộ tương đối cao (với mỗi ứng dụng nội bộ, có ít nhất 47% số Bộ ngành triển khai sử dụng).
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hầu hết các phần mềm ứng dụng đều đã và đang được triển khai tại ít nhất là khoảng 50% số tỉnh, thành trên cả nước. Tương tự như tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ - hệ thống hiện có mức triển khai hạn chế nhất ở các tỉnh, thành trên cả nước là hệ thống ứng dụng chữ ký số trong việc gửi/nhận văn bản và thư điện tử - mới chỉ được áp dụng tại khoảng 9,5% số tỉnh, thành.
Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Website/Portal của cơ quan nhà nước trong năm 2010 được cải thiện rõ rệt. Nhiều ứng dụng CNTT đã được triển khai nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước hoạt động công khai, minh bạch, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Hiện nay, đa số các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử nhằm cung cấp đầy đủ các mục thông tin theo quy định, dịch vụ trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp.
Đối với dịch vụ công trực tuyến, hầu hết các thủ tục hành chính đã được chuẩn hóa theo quy định và được đăng tải trên Website/Portal ở mức độ 1 và 2. Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các địa phương thì số lượng dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 tuy chưa cao nhưng đã có sự tăng trưởng vượt bậc so với năm 2009 (năm 2009 có 18 địa phương đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, năm 2010 có 38 địa phương). Cùng với đó, số nhóm dịch vụ công trực tuyến, mức độ triển khai tới cấp quận/huyện cũng được mở rộng. Đặc biệt, đã có 4 dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở mức độ 4 do Thành phố Hồ Chí Minh (03 dịch vụ) và Bộ Công Thương (01 dịch vụ) cung cấp.
Nhìn chung, hạ tầng kỹ thuật ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước đã được cải thiện đáng kể, bước đầu đã đáp ứng nhu cầu của các ứng dụng CNTT cơ bản trong các cơ quan nhà nước. Hạ tầng kỹ thuật CNTT bao gồm mạng truyền dẫn trên quy mô quốc gia, mạng, máy tính trong nội bộ các cơ quan nhà nước đã được cải thiện đáng kể, trước mắt bảo đảm triển khai các ứng dụng CNTT cơ bản trong các cơ quan nhà nước và tạo cơ sở cho việc nâng cấp, mở rộng phục vụ cho các ứng dụng CNTT trong tương lai. Mặc dù hạ tầng kỹ thuật đã được nâng cao, tuy nhiên vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như tồn tại sự chênh lệch khá lớn về hạ tầng máy tính, kết nối mạng giữa các địa phuwong trên cả nước phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, địa lý khác nhau; số lượng các cơ quan triển khai các giải pháp an toàn, an ninh thông tin lớn, nhưng hiệu quả của các giải pháp này chưa cao. Một số dự án đã được phê duyệt nhưng vẫn đang ở bước chuẩn bị đầu tư như dự án Trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ, dự án Hệ thống chứng thực điện tử và chữ ký số trong các cơ quan nhà nước, dự án mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước. Hiện đa số các Bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực htuộc Trung ương đã triển khai ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành ở tỷ lên khá cao. Tuy nhiên, các văn bản hành chính chủ yếu chỉ được trao đổi trong nội bộ mỗi cơ quan, chưa được trao đổi nhiều trên diện rộng giữa các cơ quan nhà nước. Rất ít lãnh đạo các cơ quan thuẹc hiện công tác quản lý, điều hành qua mạng.Cơ sở hạ tầng để triển khai hệ thống thư điện tử đang từng bước được hoàn thiện, số lượng cán bộ, công chức được cung cấp hộp thư điện tử và sử dụng thư điện tử thường xuyên trong công việc ngày một tăng.
Về cơ bản, các Bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành mục tiêu đưa các thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử. Một số ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước đã được triển khai và phát huy hiệu quả rõ rệt, tạo cơ sở cho việc phát triển các ứng dụng trong tương lai. Tiêu biểu như ứng dụng thư điện tử và các phần mềm phục vụ công tác trao đổi văn bản, quản lý điều hành, công tác tài chính - kế toán. Mặt khác, các hình thức truyền thông cơ bản cũng được khuyến khích sử dụng như thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp trên môi trường mạng, đưa thông tin lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa.
Bên cạnh đó, một số hệ thống thông tin chuyên ngành có quy mô cấp quốc gia cũng đã bắt đầu được triển khai. Điều này tạo cơ sở cho việc mở rộng hạ tầng thông tin phục vụ các hoạt động trong nội bộ cơ quan nhà nước, cũng như cung cấp các dịch vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp; tiêu biểu là các hệ thống thông tin về tài chính, thuế, hải quan, mua sắm công.
Môi trường pháp lý cho ứng dụng CNTT cơ bản được hình thành tạo điều kiện cho các hoạt động ứng dụng CNTT, và tiền đề thuận lợi cho việc xây dựng thành công CPĐT tại Việt Nam.
Hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về CNTT – TT và những văn bản điều chỉnh hoạt động ứng dụng CNTT nói riêng được ban hành đã tạo nên khung pháp lý cơ bản cho việc ứng dụng CNTT.
Sự liên tục và rộng khắp trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin phản ánh thực tế là công nghệ thông tin và truyền thông chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội các cấp. Phát triển công nghệ thông tin trở thành một trong những yếu tố thiết yếu tạo động lực cho sự phát triển bền vững.
Đối với một số lĩnh vực trọng điểm phục vụ cộng đồng như y tế, giáo dục, tài nguyền môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn, và đặc biệt trong ngành du lịch, ứng dụng CNTT đã tạo ra môi trường hoạt động trực tuyến, cung cấp cho người dân dịch vụ công thuận tiện hơn từ đó tăng khả năng tiếp cận thông tin và tri thức, đóng góp vào sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, giảm khoảng cách xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rà soát tình hình tại Việt Nam, thực tiễn cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể mở rộng và xây dựng mô hình CPĐT thế hệ mới. Tuy nhiên, để xây dựng được mô hình này, bên cạnh nền tảng có sẵn về cơ sở pháp lý cũng như hạ tầng kỹ thuật, cần đặt ra một số nhu cầu cần thiết để xây dựng thành công CPĐT thế hệ mới tại Việt Nam như sau:
- Lấy người dân làm trung tâm, đưa người dân vào trung tâm của toàn bộ nỗ lực cung cấp dịch vụ công của Chính phủ. Đẩy mạnh đến việc CPĐT cung cấp thông tin, dịch vụ phục vụ người dân cũng như tạo tác động mạnh mẽ để người dân tham gia tích cực vào quá trình ra quyết định của Chính phủ. tạo điều kiện dễ dàng cho người dân, chính phủ và doanh nghiệp kết nối với nhau, trao đổi thông tin và cộng tác với nhau dễ dàng, hiệu quả.
- Sử dụng và khai thác hơn nữa thế mạnh của ứng dụng CNTT trên phạm vi toàn quốc, tạo một phương thức mới trong quan hệ giữa chính quyền với “khách hàng” của mình là công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Xu thế “hướng đến công dân” thông qua các website đang tạo ra một phương thức hoạt động mới của các cơ quan hành chính nhà nước, trong nỗ lực cải cách hành chính và xây dựng CPĐT ở Việt Nam.
- Nâng cao tính minh bạch trong CPĐT. tính minh bạch thể hiện thái độ của chính phủ đến người dân là rất quan trọng, để làm được điều đó, cùng với các cônng cụ xuất bản và cộng tác, giúp người dân giảm việc cung cấp thông tin, giám sát việc thực hiện của chính phủ, nhờ đó thúc đẩy đổi mới.
- Thu thập các dịch vụ, thu thập dữ liệu, video, dịch vụ CNTT để có các chuẩn mở và định hướng dịch vụ.
- Nâng cao sử dụng Web 2.0, người sử dụng tham gia theo xu hướng tích cực, vừa đọc tin vừa cung cấp thông tin, tạo thành tương tác 2 chiều một cách tích cực
Có thể nói, trước sự định hướng của Đảng và Chính phủ, khung chính sách pháp luật về ứng dụng CNTT là tiền đề vững chắc, là cơ sở để tiến tới thành công trong phát triển ngành. Tuy nhiên để triển khai thành công CPĐT thế hệ mới tại Việt Nam, cần thiết phải đưa ra những chính sách để giải quyết các yếu kém, thiếu sót còn tồn đọng cũng như vượt qua những thách thức khó khăn trước mắt khi triển khai như sau:
- Thời gian qua, các Bộ ngành đã có nhiều nỗ lực thực hiện, bước đầu đạt những kết quả quan trọng, tuy nhiên một số cơ quan chưa xây dựng quy chế về quản lý, sử dụng hệ thống thư điện tử, hoặc đã xây dựng nhưng chưa quy định rõ quy trình công việc khi ứng dụng thư điện tử, các loại văn bản bắt buộc được gửi qua hệ thống thư điện tử. Trình độ, thói quen ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức và người dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận các dịch vụ của các cơ quan nhà nước thông qua ứng dụng CNTT. Nhiều cán bộ công chức chưa có thói quen, kỹ năng ứng dụng CNTT, đặc biệt là các ứng dụng CNTT đặc thù, chuyên ngành; chưa hình thành văn hóa chia sẻ thông tin. Đây là các yếu tố quan trọng cản trở việc ứng dụng CNTT. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ lãnh đạo chưa gương mẫu, chỉ đạo sát sao, quyết liệt ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động.
- Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước chủ yếu còn có quy mô nhỏ lẻ, chưa phát huy hết hiệu quả của ứng dụng CNTT. Tỉ lệ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai mạng diện rộng (WAN) kết nối các đơn vị trực thuộc cũng còn rất ít và hiệu quả sử dụng chưa cao. Các ứng dụng CNTT chuyên ngành, quy mô quốc gia tạo nền tảng cho phát triển CPĐT chưa được hoàn thành và triển khai trên diện rộng. Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp còn hạn chế, các trang thông tin điện tử chủ yếu mới chỉ cung cấp thông tin, còn ít trường hợp người dân có thể nộp hồ sơ xin cấp phép, đăng ký qua mạng do việc người dân tham gia vào các dịch vụ công trực tuyến còn ít, chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ tiện ích này. Thông tin đưa lên các cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử chưa phong phú, chất lượng chưa cao, các dịch vụ công trực tuyến được cung cấp chủ yếu ở các mức độ thấp.Các cơ quan chính phủ Việt Nam hầu như chưa ứng dụng các phương tiên di động vào trong việc cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân (ngoại trừ trường hợp thí điểm như ở Đà Nẵng đang thử nghiệm để có thể truy cập website của thành phố qua điện thoại di động). Khoảng cách số giữa các khu vực còn lớn, đặc biệt giữa nông thôn và thành thị, điều này gây khó khăn cho việc triển khai đồng bộ, trên diện rộng các ứng dụng CNTT.
- Phần lớn các dự án ứng dụng CNTT chuyên ngành chưa được hoàn thiện, chủ yếu mới ở giai đoạn bắt đầu triển khai, hoặc triển khai thí điểm trên diện hẹp. Kinh phí đầu tư cho ứng dụng CNTT còn hạn hẹp, chưa tương xứng với vai trò của ứng dụng CNTT có thể mang lại, tiến độ cấp phát kinh phí còn chậm. Trung ương và địa phương chưa có nguồn chi ổn định cho ứng dụng CNTT, đặc biệt là tại các địa phương có khó khăn về kinh tế. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình triển khai các dự án ứng dụng CNTT quy mô còn nhiều hạn chế.
- Các cơ quan nhà nước chưa thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng tốt trở thành cán bộ chuyên trách về CNTT. Số lượng và trình độ các cán bộ chuyên trách về CNTT còn hạn chế, đặc biệt là tại các địa phương, nhiều cán bộ đang làm việc theo hình thức kiêm nhiệm. Một khó khăn lớn nhất mà các đơn vị đưa ra là chưa có chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho cácn bộ chuyên trách về CNTT nên khó thu hút đur cán bộ có trình độ đáp ứng được yêu cầu về công tác.
- Các doanh nghiệp Việt Nam đã sử dụng những phần mềm và ứng dụng CNTT từ mức độ đơn giản đến phức tạp để phục vụ cho nhiều mục đích hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ phổ cập và sử dụng các ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ cũng như giữa các doanh nghiệp ở các địa bàn hoạt động khác nhau là chưa đồng đều. Còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn về nhu cầu và mức độ ứng dụng CNTT giữa các loại hình doanh nghiệp cũng như giữa các vùng miền trên cả nước.
- Tại các doanh nghiệp lớn, vấn đề trở ngại lớn nhất đối với việc ứng dụng CNTT là thứ tự ưu tiên dành cho lĩnh vực CNTT trong tương quan với các khoản đầu tư khác của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trở ngại lớn nhất cho ứng dụng CNTT là sự hạn chế về nhân lực và vốn. Tại các doanh nghiệp nhỏ, nhận thức của chỉ đạo của lãnh đạo đóng vai trò quyết định. Bên cạnh đó, vấn đề tư vấn cho doanh nghiệp khi quyết định đầu tư cho CNTT cũng như đào tạo nguồn nhân lực để phát triển CNTT lâu dài cho doanh nghiệp là những nhu cầu lớn mà doanh nghiệp hướng tới.
- Hạ tầng kỹ thuật CNTT trong các cơ quan nhà nước tuy đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua, tạo nền tảng cho triển khai thành công các ứng dụng CNTT, nhưng vẫn chưa bảo đảm nhu cầu thực tế đặc biệt là vấn đề an toàn, an ninh thông tin. Hạ tầng bảo đảm an toàn, an ninh, bảo mật thông tin hầu như chưa đáp ứng yêu cầu. Hệ thống phòng chống virus chủ yếu mới chỉ triển khai ở mức đơn lẻ tại các máy trạm, chưa xây dựng được các hệ thống phòng chống virus, chống thư rác tổng thể và hầu như chưa triển khai ứng dụng chữ ký số và chứng thực số.
Đinh Hoàng Long - Cục Ứng dụng CNTT
|