|
Trong thời gian gần đây, sự phát triển của công nghệ về cả phần mềm, phần cứng và sự phát triển của xã hội giao thoa tạo ra điểm được gọi là xã hội thứ hai (Second Society). Xã hội này có thể ở tầm vĩ mô (quốc gia, châu lục, và toàn cầu) hoặc ở tầm vi mô (quận, huyện, cơ quan, v.v.). Sự phát triển của xã hội này mang đến những thách thức và mối đe doạ cho khu vực công ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trong phần này, đề tài tìm hiểu khái niệm về CPĐT và Web 2.0, đặc tính và khung để phân loại các ứng dụng Web 2.0, cơ hội và thách thức khi ứng dụng Web 2.0 vào CPĐT.

Hình 1. Xã hội thứ hai giống như một điểm giao thoa
CPĐT được định nghĩa “sử dụng các công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet và công nghệ web, bởi một tổ chức trong khu vực công để hỗ trợ hoặc xác định lại mối quan hệ hiện tại và/hoặc tương lai (thông tin, truyền thông và giao dịch) với các bên liên quan trong nội bộ hoặc bên ngoài để tạo giá trị thặng dư”. CPĐT càng ngày càng có những giải pháp theo hướng thực tiễn, tức là cung cấp các dịch vụ rẻ hơn và thực hiện tốt hơn.
CPĐT được phát triển theo năm tầng:
- Tầng thứ nhất mang tính chất có mặt là một website cung cấp thông tin đơn giản có tính chất thu động, được mô tả như là “những cẩm nang”, những thông tin như là ngày bầu cử, ngày nghỉ lễ, quy chế, văn bản pháp luật. Thông tin được giao tiếp theo một chiều.
- Tầng thứ hai là tầng tương tác cung cấp tương tác đơn giản giữa chính phủ và người dân (G2C), chính phủ và doanh nghiệp (G2B), hoặc giữa các cơ quan trong chính phủ (G2G). Ở tầng tương tác, các website cung cấp email liên lạc và những định dạng tương tác mà đưa ra đáp ứng thông tin phù hợp.
- Tầng thứ ba là tầng giao dịch cho phép giao dịch như thực hiện giao dịch văn bản trực tuyến, thanh toán thuế hoặc phí trực tuyến, hoặc đấu thầu qua mạng.
- Tầng trao đổi là tầng thứ tư dùng gần với khái niệm về sự cai trị bao gồm cách thức việc tái tạo chức năng của chính phủ về mặt quan niệm và tổ chức.
Tầng tham gia chính sách được coi là tầng thứ năm: người dân bỏ phiếu trực tuyến về việc bầu cử trong chính phủ, phủ quyết luật, chính sách hoặc tham gia hội nghị trực tuyến của chính phủ.
 Hình 2. Các tầng của chính phủ điện tử
CPĐT thế hệ mới là CPĐT có sử dụng các công cụ Web 2.0 như là wikis, blogs, và các trang mạng xã hội để thu hút người dân tham gia phát triển chính sách và cung cấp dịch vụ. Về cơ bản, CPĐT thế hệ mới là ứng dụng của các công nghệ và nguyên tắc dựa trên nguồn mở và hợp tác của Web 2.0 để thực hiện các công việc của chính phủ. Theo hình 2, CPĐT thế hệ mới được phát triển dựa trên tầng 4 và tầng 5.
Trung tâm của CPĐT thế hệ mới là thông tin phải được mở để truy cập công khai rộng rãi. CPĐT thế hệ mới làm cho việc cai trị trở nên minh bạch bằng tăng cường quyền tự do thông tin và xây dựng quyền truy cập. Vì vậy, CPĐT thế hệ mới gồm các quyền công dân có thể sử dụng lại, tài bản, thay đổi mục đích và thêm giá trị đối với thông tin khu vực công (public sector information- PSI).
|
|
CPĐT |
CPĐT thế hệ mới |
|
Quản lý |
Phân cấp
Cứng nhắc |
Có hệ thống
Hợp tác
Linh hoạt |
|
Cung cấp dịch vụ |
Chỉ có một cỡ
Cung cấp theo sự giám sát
Đơn kênh |
Cá nhân hóa
Có sự lựa chọn
Nhiều kênh |
|
Hiệu quả |
Định hướng đầu vào
Khép kín |
Định hướng theo kết quả
Minh bạch |
|
Làm quyết định |
Công chúng là khán giả |
Công chúng là người tham gia |
Bảng 1. Sự cải thiện của CPĐT thế hệ mới so với CPĐT trước đây
CPĐT thế hệ mới có những bước tiến hơn so với CPĐT trước đây trong quản lý, cung cấp dịch vụ, hiệu quả và đưa ra quyết định. Điều đó được thể hiện trong bảng 1.
Một nhân tố quan trọng cho việc thực hiện thành công ứng dụng Web 2.0 là độ tin cậy. Các nhóm trong back office có hợp tác ổn định, có thể tạo vòng ảo, độ tin cậy là kết quả của việc hợp tác. Để giới thiệu các ứng dụng Web 2.0, các tổ chức chính phủ phải thúc đẩy bằng một chiến lược chính trị mạnh mẽ để tăng cường hợp tác và để tăng kết nối giữa những nhà chính trị và người dân. Chiến lược này nên thực hiện từ dưới lên, nơi mà việc bắt đầu được thực hiện không có sự tán thành và không có nhận thức về trách nhiệm một cách chính thống.
Một vài chiến lược Web 2.0 dựa vào lấy lại dữ liệu công. Dữ liệu công khai rộng rãi cho việc sử dụng lại là một nhân tố quan trọng để khuyến khích sự chấp nhận của các ứng dụng Web 2.0.
Thực hiện những dự án này đóng một vai trò quan trọng. Trong vài trường hợp, các dịch vụ được giám sát hoàn toàn bởi chính phủ, trong vài hợp đồng của chính phủ khác, một tổ chức xã hội thiết kế và nhận ra dự án. Trong trường hợp cuối cùng, chính phủ thiếu sự giám sát và ảnh hưởng đến toàn bộ dự án.
Khả năng sử dụng là một nhân tố quan trọng khi thực hiện các dự án Web 2.0. Vì vậy, những ứng dụng thông thường này được công khai lần đầu với tên gọi “beta version” và các nhà quản lý của những khởi đầu đại diện thực hiện vài xem lại trong những ngày đầu sử dụng. Việc xem lại dựa vào những phản hồi từ phía người sử dụng và mẫu của sử dụng các ứng dụng. Trong những ngày tiếp theo, sự tham gia của người sử dụng là tích cực và được trau dồi. Sự khích lệ để tăng cường khả năng tham gia sẽ nhận thấy đối với những đóng góp của người sử dụng. nhận ra sử dụng tích cực và khuyến khích những bình luận. Khả năng sử dụng là quan trọng về cách các dự án Web 2.0 được đặc tính hóa bởi vai trò người sử dụng tích cực hơn. Như đã được trình bày trong phần 2.2.1, bốn mức tham gia biểu diễn các dịch vụ khác nhau có thể được xây dựng sự tham gia của người sử dụng. Mặc dù sự phân biệt giữa những người sử dụng tích cực và thu động vì các ứng dụng Web 2.0 cũng có thể khám phá hoạt động và tri thức của người sử dụng thụ động. Tuy nhiên, đặc tính quan trọng nhất từ mô tả là Web 2.0 không chỉ được sử dụng bởi những người dùng blogs, entries, videos, nhưng, đối với vài ứng dụng, bằng việc chia sẻ dân số và sự ưu tiên bởi tất cả những người sử dụng Internet.
Vai trò trong tham gia và thu hút người sử dụng được điều khiển bởi chính sách, sự minh bạch, xác thực, điều tiết và riêng tư. Các ứng dụng được xây dựng không chỉ cho những người sử dụng nội bộ có tính xác thực cao. Người sử dụng có thể nhận dạng ai viết gì nội dụng thế nào những ai đóng góp có thể chịu trách nhiệm. Ngược lại đối với những ứng dụng mở mà người dân sử dụng, việc xác thực là yếu. Trong bất cứ trường hợp nào, hàng rào đối với việc đóng góp phải được giữ thấp để khuyến khích tham gia và đảm bảo độ trong suốt. Vì thế, rõ ràng sự tham gia của người sử dụng không dễ dàng thu được và không thể giảm để đơn giản các blogs, wikis và các đặc điểm mạng xã hội trên website. Thực tế, web là những blogs và wikis không được sử dụng đầy đủ tính năng của nó. Sự tham gia của người sử dụng yêu cầu nỗ lực và giải pháp linh hoạt.
Có vài lĩnh vực chính phủ mà ở đó ứng dụng Web 2.0 có ảnh hưởng có ý nghĩa, bao gồm cả back và front office. Ảnh hưởng này là đặc điểm chung bởi vai trò người sử dụng tích cực. Vai trò của người sử dụng bao gồm các hoạt động khác như:
- Thiết kế và phân phối dịch vụ;
- Cung cấp lời chú thích và bình phẩm;
- Cung cấp sự quan tâm tự động và dữ liệu có giá trị bằng sử dụng dịch vụ.
Vai trò người sử dụng tích cực ám chỉ vai trò tối thiểu của chính phủ trong quyết định các ứng dụng sẽ được chấp nhận và sử dụng. Những người làm việc cá nhân mang những ứng dụng vào trong các tổ chức công, và những ứng dụng cá nhân này không yêu cầu cài đặt trên máy tính riêng, do đó gây khó khăn cho các bộ phận CNTT để giám sát việc sử dụng của các cá nhân trong tổ chức. Hơn nữa, các tổ chức người dân hoặc những người dân có thể tạo những dịch vụ bên ngoài sự giám sát của các tổ chức mà không cần xác thực hoặc tài trợ bởi các tổ chức chính phủ.
Lợi ích ứng dụng Web 2.0 là trực tiếp liên quan trực tiếp đến mục đích chiến lược về tái cơ cấu chính phủ và làm chính phủ: - Đơn giản và định hướng người sử dụng;
- Minh bạch và có trách nhiệm;
- Tham gia và tính toàn diện;
- Tham gia và tạo mạng lưới.
Các ứng dụng Web 2.0 được sử dụng trong chính phủ không chỉ cho các vấn đề mềm, như mối quan hệ công chúng và thông báo dịch vụ công. Chúng cũng được sử dụng trong các nhiệm vụ nội bộ như các dịch vụ thông minh, xem lại các chính sách, và quá trình ra quyết định. Ở tầng đầu tiên, các ứng dụng Web 2.0 trong chính phủ được sử dụng rộng rãi sẽ có ảnh hưởng rõ rệt. Một lĩnh vực đặc biệt chịu ảnh hưởng này là việc tham gia vào chính trị, đặc biệt các chiến dịch tranh cử.
Cuối cùng, sự quan trọng của Web 2.0 thể hiện qua việc cải tiến các công cụ và chiến lược vừa mới sử dụng trong CPĐT và không bị giảm giá trị qua thời gian.
Sử dụng của Web 2.0 bởi các chính phủ có thể được nhận ra một cách tích cực bởi người dân qua giới hạn về những lứa tuổi nhất định. Ở khu vực tư, người dân mong muốn chính phủ cung cấp các ứng dụng Web 2.0 cho họ. Sau đó, người dân xem xét các ứng dụng để sử dụng hoặc để tìm hiểu. Ví dụ, họ không muốn bình luận xuất hiện trong các mạng của họ mà không có sự cho phép rõ ràng. Tuy nhiên, hầu hết người ta tìm thấy các ứng dụng theo hướng tương tác rất quan trọng và có ích.
Sự lo lắng của người dân là sự tự tin về độ tin cậy của thông tin và tin cậy nghĩa là thông tin thực được đưa ra bởi tài nguyên của chính phủ và sự riêng tư. Thực tế, theo truyền thống về độ tin cậy của chính phủ với dữ liệu riêng hơn là tin cậy vào các doanh nghiệp. Ngược lại, chính phủ phải có trách nhiệm rõ ràng để bảo vệ dữ liệu của người dân và xử lý trúng với sự cẩn trọng thích hợp.
Có một vài mối quan tâm về sự tham gia một cách công bằng. Không phải tất cả mọi người đều truy cập đến Internet và World Wide Web. Điều này xảy ra vì cả các lý do kinh tế và kỹ thuật. Không nên thể hiện sự thiên vị đối với bất cứ thành phần nào của dân số từ việc tham gia vào chính phủ thế hệ mới và để đảm bảo rằng tất cả những tiếng nói được lắng nghe và được đưa vào trong việc làm quyết định.
Ảnh hưởng của Web 2.0 mạnh nhất là sự tham gia của người dân qua các mức của ứng dụng Web 2.0 chưa được thấy trước đây. Web 2.0 đẩy mạnh tương tác giữa người dân với chính phủ, gia tăng sức mạnh của người dân để tham gia và thu hút những thay đổi chúng sẽ xảy ra trong chính phủ và xã hội.
Nhiều người cảm thấy quan trọng đối với việc lắng nghe tiếng nói của người dân trong những vấn đề cục bộ. Điều này sẽ trở nên dễ dàng hơn với truy cập trực tuyến và các cuộc họp ảo. Sử dụng các ứng dụng Web 2.0 cho phép họ có thảo luận, có những lý do rõ ràng, và tương tác với chính phủ, tăng cường ảnh hưởng của người sử dụng và cho phép họ có tiếng nói lớn hơn trong quá trình ra quyết định và trong các hoạt động hàng ngày của chính phủ.
Tất cả những đặc điểm trên về nhận thức của người dân đưa đến kết luận rằng Web 2.0 gia tăng sự tin tưởng của người dân vào chính phủ và củng cố mối quan hệ giữa người dân và chính phủ. Các ứng dụng Web 2.0 trong một vài trường hợp sẽ cải thiện hình ảnh chính phủ đối với công chúng và làm cho những hình ảnh đó minh bạch hơn đối với người dân.
Nguyễn Minh Thu- Cục Ứng dụng CNTT
|