Trang chủ| Sơ đồ |Tiếng Anh
 
 
Kinh nghiệm triển khai
  
Ứng dụng Web 2.0 vào các hoạt động chính trị và điều hành chính phủ
Cập nhật : 14:40 - 14/12/2011

Hoạt động tranh cử

Trong hai năm 2009 và 2010, nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Italy, Anh, Hy Lạp, Na-uy sử dụng các công cụ của Web 2.0 và mạng xã hội như Facebook, Hi-5, Twitter, v.v. vào hoạt động tranh cử. Trong phần này, chúng tôi giới thiệu hai quốc gia điển hình sử dụng website và mạng xã hội cho chiến dịch tranh cử của các đảng là Anh và Na-uy.

Chiến dịch tranh cử ở Anh năm 2010

Trong chiến dịch bầu cử năm 2010, thông qua Internet, các Đảng sử dụng mạng xã hội như Facebook, Twitter, phương tiện media như Youtube và website riêng của họ. Thông qua những công cụ này, các Đảng có thể quảng bá và biến những người hỗ trợ trung thành thành những nhà hoạt động chính trị. Mặc dù website và mạng xã hội trở thành các công cụ chính trong chiến dịch, nhưng chưa có những thay đổi cơ bản về bản chất của chiến dịch. Dẫu cho những cuộc tranh luận ảo được thực hiện ở mức độ toàn cầu và được khuyến khích thực hiện nhưng không được sử dụng để phát triển hoặc thảo luận chính sách. Các website của đảng không có công cụ cho việc bỏ phiếu qua mạng. Tại diễn đàn của đảng BNP và Blue Blog của đảng Bảo thủ đã có dấu hiệu về tiến trình liên quan đển thảo luận chính sách, và phần bình luận về chiến dịch và những sự kiện chính, đặc biệt cuộc tranh luận trên truyền hình, cũng như kết quả ở quốc hội và cách các đảng nên phản ứng. Ở Đảng Dân chủ Tự do, Diễn đàn tiếng nói độc lập khá sống động. Các diễn đàn trên Twitter và Facebook được hỗ trợ bởi rất nhiều người cho việc bỏ phiếu, gợi ý công khai trong các cuộc tranh luận. Trong khi diễn đàn BNP nói về chính trị một cách thẳng thắn thì Blue Blog sử dụng ngôn ngữ trong cộng đồng trí thức.

          So sánh với các bầu cử ở UK trước đây, Internet đã có một vai trò cụ thể trong chiến dịch 2010 của các đảng chính. Các website của đảng cung cấp không gian cho tương tác giữa các đảng và cử tri, nó sẽ bị lỗi nếu được đọc quá nhiều. Bầu cử năm 2010 không hỗ trợ về mặt cùng chiến thắng tức là những người quan tâm chính trị có thể tham gia với đảng. Hơn nữa, đây là nơi mọi người có thể chia sẻ, nơi quá trình tương tác dễ dàng, nhưng không có sự rõ ràng về lợi ích chính trị để tham gia dựa vào hỗ trợ cho một đảng nhất định. Vì vậy, việc tham gia được khuyến khích, nó là công cụ cần thiết cho những người hỗ trợ. Dữ liệu gợi ý các đảng có hai giải pháp khác nhau đối với Web 2.0. Ba đảng - BNP, Cons, LibDem - năm 2010, biểu diễn một tầng trong quá trình biến đổi, được thể hiện trong bầu cử , nhưng ba đảng khác không sử dụng các ứng dụng Web 2.0.

          Ngoài ra, sự can thiệp của công chúng, như là châm biếm các poster của đảng, người sử dụng Twitter bình luận về những tranh luận của lãnh đạo, và chiến dịch các nhóm Facebook hoặc chống lại các đảng cũng như sửa đổi rộng rãi, đều làm môi trường truyền thông phức tạp. Thêm vào đó, các trang của đảng cùng với việc kết hợp giám sát và đặc tính hỗ trợ có thể gần gũi với dân chúng hơn. Tính cưỡng chế thị trường của chiến dịch bầu cử không quan tâm đến các yêu cầu tham gia của công chúng. Tuy nhiên, các chiến dịch khác nhau tập trung cho ba đảng đã tăng cường mức tham gia được nhúng trong mạng trực tuyến và các mục đích bầu cử. Điều này gợi ý, nếu tài nguyên là có ý nghĩa để giám sát và bố trí tham gia trong các phần tử chiến dịch trực tuyến, bầu cử có thể trở thành vấn đề cần sự tham gia nhiều hơn trong tương lai và việc tranh cãi tiếp theo sẽ đưa ra các bài học từ năm 2010. Lợi ích được tìm thấy từ khuyến thích tham gia trực tuyến có thể gia tăng truyền theo theo ba hướng (người sử dụng – người sử dụng và người gửi- người nhận- người sử dụng) trong môi trường giám sát người sử dụng trong các trang của đảng.

          Các ứng dụng sử dụng trong chiến dịch tranh cử được trình bày trong bảng sau:

 

Website URL

Youtube

Facebook

Các trang hỗ trợ website khác

BNP

www.bnp.org.uk

www.youtube.com/user/BNPukBNP

www.facebook.com/pages/British-National-Party/71523830069

bnptv.org.uk/

twitter.com/bnp

Đảng Bảo thủ

www.conservatives.com

www.youtube.com/user/webcameronuk

www.facebook.com/conservatives

www.flickr.com/photos/conservatives/twitter.com/conservatives

Đảng Xanh

www.greenparty.org.uk/

www.youtube.com/greenpartyew

www.facebook.com/thegreenparty

twitter.com/thegreenparty

Đảng Công nhân

www.labour.org.uk

www.youtube.com/user/theuklabourparty

www.facebook.com/labourparty

www.twitter.com/UKLabour

Đảng Dân chủ Tự do

www.libdems.org.uk

www.youtube.com/user/LibDem

www.facebook.com/libdems

twitter.com/LibDems/

UKIP

www.ukip.org

www.youtube.com/ukipmedia

www.facebook.com/profile.php?id=1343813145

N/A

Bảng 1. Các ứng dụng được sử dụng trong chiến dịch tranh cử

Sử dụng Web 2.0 trong chiến dịch tranh cử ở Na-uy

          Ở Na-uy, người ta sử dụng khái niệm “web 1.5” như là một quá trình trung gian phát triển Web 1.0 lên Web 2.0. Bên cạnh đó, quá trình “e-ruption” (quá trình đột phá) được thực hiện để tăng khả năng quảng bá đối với những đảng mới và nhỏ, thu hút những người hỗ trợ mới để mở rộng đảng. Từ “e-ruption”, các Đảng có thể tối thiểu tài nguyên được chia sẻ của các nhà hoạt động chính trị và họ sẽ quyết định xem có nên sử dụng các công cụ Web 2.0 hay không. Tuy nhiên, thực hiện “e-ruption” có những nhược điểm là dễ mất kiểm soát đối với các chi nhánh đảng nội bộ và các nhà hoạt động chính trị.

Đối với “e-ruption”, Web 2.0 có ý nghĩa chính trị ít hơn, mang đến sự giản dị đối với những người sử dụng thực sự. Việc bỏ phiếu chính trị được tràn từ thành phố ra nông thôn. Ví dụ, 55.503 người theo dõi chính trị trên Twitter, 45.766 thành viên của các nhóm đảng chính trị trên Facebook, trong khi các videos trên các kênh của đảng trên Youtube có tổng số 189.316 người xem. Chất lượng mang tính chất chính trị được xem xét bởi quyết định bỏ phiếu, nhận các thông tin từ các trang Web 2.0. Vì vậy, tối thiểu trong mạng xã hội số trên Web 2.0 có thể hoạt động như hubs, kết nối chúng với mạng xã hội thực hoặc công chúng ở mức lớn hơn. Tầm quan trọng của Web 2.0 có thể chưa được đánh giá như một công cụ cho hoạt động hoặc tổ chức những người bỏ phiếu và các hoạt động chính trị trong mạng xã hội thực sự. Tất nhiên, nó cũng sẽ hỗ trợ trung gian hoặc trái ngược với những mạng này.

Câu chuyện thành công về chiến dịch Internet, và đặc biệt chiến dịch của Howard Dean và Barack Obama, có ý nghĩa về mặt truyền thông và các chiến lược của đảng. Nhưng có sự khác biệt giữa hệ thống đảng American và Norwegian. Hệ thống đảng và các tổ chức đảng ở USA và Norway là khác nhau. Cỡ và sự đa dạng về dân số và lãnh thổ khác nhau yêu cầu về mạng cục bộ và tự trị, cũng như sự tích hợp và truyền thông giữa các địa phương. Hơn nữa, các đảng ở Mỹ có cấu trúc tổ chức gần nhau hơn với những thành viên liên quan và thường nổi bật ở những chi nhánh địa phương. Mặt khác, các đảng ở Norway tổ chức mạnh mẽ ít những mạng nhỏ. Thứ ba, các cuộc bầu cử ở Mỹ lấy ứng viên làm trung tâm, ngược lại thì Norway lấy các đảng làm trung tâm. Sự khác nhau này sẽ giảm qua thời gian – cùng với các quốc gia châu Âu- là giải pháp mô hình với những chi nhánh cục bộ được tách ra, những cử tri íttrung thành hơn, ítthành viên hơn và tập trung vào những người lãnh đạo. Nhưng họ vẫn đủ đểđảm bảo các câu hỏi đối với Web 2.0 có nhiều chức năng hơn đối với các đảng ở Mỹ và vì vậy tỷ lệ cao hơn để chiến thắng trong bầu cử.

Sự tham gia và giám sát của người dân về chính sách và hoạt động của chính phủ thông qua Web 2.0

          Các ứng dụng Web 2.0 sử dụng để chia sẻ giữa người dân và chính phủ dựa trên các yếu tố: cơ chế, hợp tác, quản lý thông tin và trao đổi tri thức, tham gia của công chúng trong chính sách và giám sát dịch vụ.

Cơ chế như là để điều khiển và giám sát các dịch vụ của chính phủ bao gồm viễn thông, giáo dục và y tế. Do đó, chính phủ trên toàn thế giới dịch chuyển từ vai trò cung cấp dịch vụ hướng đến vai trò điều tiết. Nhờ vậy, chính phủ có lợi từ việc tham gia với người dân bình thường cũng như những chuyên gia và người có vai trò tích cực hơn trong yêu cầu về cơ chế bởi chính phủ. Ví dụ, trang Web 2.0 của cảnh sát New Zealand dùng để khuyến khích công chúng đóng góp hướng đến dự thảo hoạt động chính sách mới. Nó giống như wiki cho phép người dân đưa ra gợi ý của họ, đọc những gợi ý khác, đưa ra phản hồi và bình phẩm. Hay như ở Mỹ, những người đạp xe tạo một trang nyc.mybikerlane.com để mọi người có thể phàn nàn về điều kiện đường xá, những làn đường chỉ dành cho tải, xe ô tô, không cho đạp xe. Hình vẽ được đưa lên và những hình ảnh này được đăng ký và hợp với dữ liệu địa lý để tạo tri thức tập thể về các vấn đề tồn tại, và để lên tiêng, đưa ra lợi ích của mạng ở mức độ lớn, đối với chính quyền
cục bộ.

Việc hợp tác được thực hiện để trao đổi thông tin trong các cơ quan chính phủ và giữa các chi nhánh khác nhau của chính phủ hoặc sắp xếp làm chính sách nội bộ giữa các tổ chức. Ứng dụng Web 2.0 được sử dụng bằng wiki. Quản lý thông tin và trao đổi tri thức là phần tích hợp của quản lý tổ chức hiện đại với mục đích gia tăng hiệu quả và giảm rủi ro về sự trùng lặp. Ví dụ, TiWiki là website hợp tác thực hiện bởi Bộ Giáo dục để mà nhân viên từ các cơ quan khác nhau có thể hợp tác và chia sẻ ý tưởng trong bộ phận giáo dục đại học. Intellipedia được dùng ở 16 cơ quan ở Mỹ mà phân phối với công việc thông minh. Nó tạo ra mạng bảo mật, gần gũi, giữa các cơ quan trong nhà nước. Value Jam là một công nghệ Web 2.0 thực sự được phát triển bởi IBM. Nó được sử dụng bên ngoài như một thảo luận toàn cầu trước hội nghị bởi Liên hiệp quốc (United Nation – UN) trong kết nối với hội nghị Habitat ở Canada về các điều kiện sống bị giảm trong các thành phố lớn trên thế giới. Những người tư khắp nơi trên thế giới có thể gia nhập và gặp nhau ở cafe và các địa điểm hội họp hoặc tham gia từ nhà trong một thảo luận của sự ưu tiên và các khía cạnh quan trọng của thành phố (xem www.habitatjam.com). Bộ tài chính Đan Mạch, với nhiệm vụ “Digital Taskforce”, vừa tạo một trang Wiki cho mục đích tạo mô hình tích hợp, cho người làm trong khu vực công để tham gia hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.

Quản lý thông tin và trao đổi tri thức được thực hiện trong cộng đồng dân cư và trong các cơ quan nhà nước nơi mật độ thông tin và tri thức cao. Chính phủ New Zealand là người dẫn đầu trong sử dụng các công cụ Web 2.0 trong trao đổi tri thức. Dịch vụ chạy bởi Bộ Giáo dục của New Zealand để thiết lập cộng đồng trực tuyến tương tác co tất cả trường cấp 1 và cấp 2 ở New Zealand. Mục đích của dịch vụ là để cung cấp cho các hiệu trưởng không gian để chia sẻ, thảo luận, phản ánh, và dễ dàng học từ kinh nghiệm và tri thức của những người khác. Blog cho các chuyên gia ICT làm việc cho chính phủ New Zealand gọi là eLabs để khám phá xu hướng web, phần mềm nguồn mở, và công nghệ cho chính phủ. Trang web được hỗ trợ để công khai những thử nghiệm tốt nhất và nghiên cứu để mà tri thức ở các tổ chức khác nhau trong chính phủ được chia sẻ, trao đổi, và không trùng lặp. Ở Mỹ, www.peerpatent.org hỗ trợ để làm khung về phát minh để dễ dàng chia sẻ với người giữ phát minh về ý tưởng tốt mà bao gồm những người cung cấp trong việc lọc ý tưởng trước khi đưa vào ứng dụng. Sau Hurricane Katrina ở New Orleans, một giải pháp để giúp những người lạc và thành viên gia đình có tính chất cục bộ hóa, được thiết lập bởi hai người trong hai ngày sau khi xảy ra. Nó được gọi là www.scipionus.com. Ở Đan Mạch, sundhed.dk (health.dk) đã khởi động một diễn đàn (diabeteschat.dk) để những bệnh nhân đái đường có thể trao đổi tri thức và kinh nghiệm về bệnh của họ. Ở Anh, qua website patientioinion.co.uk, các bệnh nhân thảo luận và đánh giá kinh nghiệm của họ về kết quả từ việc chăm sóc của bệnh viện ở để bệnh viện nhận thấy kinh nghiệm của người sử dụng của họ và đưa ra tri thức. Tri thức này giúp cho những người quản trị NHS của khu vực sức khỏe, cố gắng để trả lời câu hỏi để làm những gì tốt hơn, rẻ hơn, và hiệu quả hơn. Ngoài ra, CPĐT Anh sử dụng Youtube như là công cụ cho “viral marketing”. Một trong những ví dụ là một video chỉ ra ảnh hưởng của Global Warming như một cảm hứng cho người dân để tiết kiệm năng lượng giảm lượng khí thải CO2. Đây là một ví dụ rõ ràng cho việc eParticipation.

Sự tham gia của công chúng là một chiến lược lâu dài cho các chính phủ khác nhau. Sự tham gia của công chúng được thể hiện ở việc tham gia chính sách và giám sát dịch vụ. Việc tham gia chính sách được thể hiện trong Blogs và Youtube. Trong năm 2008, chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ, thượng nghị sỹ Barak Obama dựa vào mạng xã hội như chiến lược chính của chiến dịch này. Đầu tư vài mạng xã hội cho phép Obama tiếp cận những người bỏ phiếu trẻ tuổi theo cách hiệu quả mà không thể thu được qua các công cụ truyền thống. Các công cụ Web 2.0 là quan trọng đối với chính trị ở Pháp, nơi các ứng viên tổng thống mở các chiến dịch trụ sở chính trong thế giới thứ hai (thế giới ảo 3D). Ở Anh, E-petition là một ví dụ khác về làm thế nào người dân được khuyến khích tham gia đời sống chính trị. E-petition là một khởi đầu được khởi động bởi văn phòng của Thủ tướng chính phủ Anh bằng người dân nào có thể đưa ra các kiến nghị trực tiếp đến cơ quan chính phủ, hoặc họ có thể thấy và ký các kiến nghị được đưa ra bởi những người dân khác. Các dịch vụ Web 2.0 cho phép người dân đóng vai trò tích cực trong giám sát phân phối và chất lượng dịch vụ chính phủ. Vai trò chính trong việc giám sát dịch vụ là được tham gia bởi xã hội và các nhà hoạt động thường không bao gồm chính phủ. Một vài nỗ lực mà sử dụng các dịch vụ Web 2.0 trong vùng giám sát dịch vụ. Blogs, wikis và bản đồ mashup được sử dụng rộng rãi trong kết quả của Hurricane Katrina để tổ chức những nỗ lực này để giúp đỡ những người sống sót và tăng tốc độ. Trackitt là một trang mà cho phép người sử dụng theo dõi hợp tác quá trình ứng dụng nhập cư bằng chia sẻ thông tin với các ứng dụng khác. Trang này là đáp ứng trực tiếp đối với thiếu sự trong suốt của chính phủ trong các dịch vụ nhập cư và dịch vụ cho các khách hàng nghèo thường phải nộp đơn. Trackitt hỗ trợ để cung cấp tầm nhìn lớn hơn vào quá trình áp dụng. Trang này cho rằng “nhiều người sử dụng chia sẻ thông tin hơn, giảm mức độ không chắc chắn kể cả trong quá trình xét tuyển của họ, và làm nó dễ dàng đánh gia khi các lá đơn của họ sẽ được xử lý”. Trang cung cấp wikis, RSS, và các công cụ phân tích cho người sử dụng. Ví dụ này chỉ ra làm thế nào người ta có thể hợp tác để cải thiện và tăng cường dịch vụ chính phủ nghèo và thiếu sự trong suốt trong chính phủ. Ở Hà Lan, một số thành phố khởi động website cho việc giám sát dịch vụ từ phía người dân. Thành phố Nijmegen kỷ niệm lần thứ 2000. Trong năm đó, Nijmegen là thành phố đầu tiên phát triển một @tlas lịch sử số. Với ứng dụng GIS, người vào website xem chi tiết các đối tượng lịch sử trong trung tâm của Nijmegen (www.Nijmegen.nl/hetarchief). Đối với thành phố Nijmegen, ứng dụng này là bước mới trong cải thiện giám sát dịch vụ. Vào tháng 6/2003, Platform of Nuisance bởi sân bay ở Castricum (Platform Vlieghinder Regio Castricum (PVRC) ở Hà Lan) được thiết lập. Platform hỗ trợ những người dânphàn nàn về tiếng ồn từ máy bay sử dụng Poldertrack của sân bay Schiphol. Mục đích của PVRC là để giảm mức nhiễu từ máy bay bằng tăng cường sự công khai (www.vlieghinder.nl). Để căn cứ vào những phàn nàn của họ, platform phát triển (cùng với Geluidsnet) một hệ thống để xem xét âm thành của máy bay ở các vị trí khác nhau. Bằng phương tiên của ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (Geographical Information System – GIS) nó có thể giám sát di chuyển của máy bay thực tế (www.radar.vlieghinder.nl). Năm 2004, Helmond đã phát triển ứng dụng GIS mục đích mô phỏng sự tham gia của người dân (www.virtuellhelmond.nl). Ở Virtuocity, một người có thể đi bộ trong trung tâm 3D ảo của thành phố. Trong thế giới ảo này, các dự án làm đô thị hóa. Website cung cấp diễn đàn mà người dân có thể thảo luận quan điểm của họ về các dự án đô thị hóa. Đối với vài dự án, nó có thể thay thế bởi dự án khác bằng cách bỏ phiếu. Hơn 200 người đã bỏ phiếu trên website. Trong tháng 11/2005 website của Hoogkerk đã được giới thiệu. Hoogkerk là một làng thuộc thành phố Groningen. Mục đích của website là mô phỏng sự kết nối và cam kết của người dân và để gia tăng giám sát dịch vụ. Website thông báo cho người dân về những phát triển thực trong Hoogkerk. Người dân có thể thảo luận với nhau trên diễn đàn. Từ tháng 1/2007 người ta có thể chat mọi buổi chiều thứ tư với văn phòng cảnh sát trong “giờ tư vấn”. Website cung cấp Wijk TV. Ứng dụng này chứa video ấn tượng được làm bởi người dân ở Hoogkerk. Vào tháng 4/2006, đơn vị cảnh sát ở Haaglanden đặt website www.hoeveiligismijnwijk.nl. Mục đích quan trọng của website này là để cung cấp cho người dân một “tổng quan thực tế” về tình trạng an toàn địa phương. Website dựa vào GIS, 11 loại báo cáo về tội phạm trong thành phố hoặc quận có thể được thay trên bản đồ. Nó cũng có thể so sánh những tội phạm thực tế với những tội phạm trước đó (“giám sát”). Website cung cấp cho người dân với những lời khuyên để ngăn những tội phạm này.

Tất cả những ứng dụng này có thể tóm tắt trong hình dưới đây.

Hình 1. Sự tham gia và hợp tác của người dân trong các hoạt động
của chính phủ

Đinh Hoàng Long - Cục Ứng dụng CNTT