|
Viện Chính phủ điện tử, Trường đại học Waseda – Nhật Bản đã phát hành bảng xếp hạng Chính phủ điện tử Waseda 2010, đánh dấu năm thứ sáu liên tiếp của mình trong công tác giám sát quá trình phát triển Chính phủ điện tử trên toàn thế giới. Chính phủ điện tử có tầm quan trọng ngày càng tăng trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như mối quan tâm về các vấn đề môi trường ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, công nghệ thông tin và truyền thông có thể là một công cụ mạnh mẽ để giải quyết các vấn đề và giúp con người hướng tới một xã hội thông tin toàn diện. Chính phủ là chủ thể chính trong quá trình này và quá trình phát triển chính phủ điện tử trong những năm gần đây cho thấy rằng toàn thế giới đang hướng tới xây dựng mô hình nhà nước lấy công dân làm trọng tâm.
Điều này đã dẫn đến xu hướng tăng cường tham gia giao dịch trực tuyến về cả chất lượng và chiều sâu của giữa người dùng và chính phủ. Mối liên kết giữa chính quyền địa phương và trung ương cũng trở nên mạnh mẽ hơn. Điện toán đám mây cũng là một chủ đề khác thu hút sự quan tâm lớn từ nhiều chính phủ với tư cách là công cụ giúp giảm chi phí hoạt động cũng như lượng giấy tờ in ấn trong giao dịch.
Qua nghiên cứu, có thể tóm lược lại bốn điểm đáng nổi bật sau:
1. Chính phủ 2.0. - Sự gia tăng liên tục trong việc sử dụng các ứng dụng trong Gov 2.0 qua đó cải thiện tính tương tác qua các trang web chính phủ điện tử.
2. Công nghệ thông tin xanh – cơ quan chính phủ có mối quan tâm ngày càng lớn tới công nghệ xanh trong CNTT-TT.
3. Điện toán đám mây và ảo hóa – ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều quan chức chính phủ.
4. Đây là lần đầu tiên mà các nước châu Âu chiếm nhiều vị trí trong Top 20 nước có điểm số cao nhất trong bảng xếp hạng chính phủ điện tử Waseda.
Bảng xếp hạng phát triển Chính phủ điện tử Waseda mới nhất khảo sát mức độ phát triển của 40 quốc gia. Singapore đạt được vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng, trong khi Hoa Kỳ - quốc gia giữ vị trí đầu tiên trong suốt những năm 2005-2008, chỉ xếp hạng ở vị trí thứ hai. Đây là lần đầu tiên mà các nước châu Âu có phần lớn trong số 20 vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng Chính phủ điện tử Waseda. Danh sách đầy đủ của mười quốc gia hàng đầu có sự phát triển tiên tiến nhất trong chính phủ điện tử theo khảo sát Waseda là: (1) Singapore, (2) Mỹ và Anh, (4) Canada, (5) Úc, (6) Nhật Bản, (7) Hàn Quốc, (8) Đức, (9), Thụy Điển, (10) Ý và Đài Loan.
Bốn quốc gia mới đã được thêm vào cuộc điều tra xếp hạng năm 2010 là Kazakhstan, Thụy Sĩ, Tunisia và Thổ Nhĩ Kỳ. Đây cũng là lần đầu tiên một quốc gia từ Trung Á (Kazakhstan) được đưa vào khảo sát này.
Một điểm mới khác của cuộc điều tra 2010 là việc bổ sung một chỉ số mới đo lường mức độ tham gia giao dịch trực tuyến, lần đầu tiên được sử dụng để đo mức "nhu cầu" về chính phủ điện tử cũng như xem xét mức độ mọi người sử dụng các công nghệ nền tảng của chính phủ điện tử đến đâu, đặc biệt là ứng dụng Gov 2.0.
Sáu chỉ số được sử dụng trong khảo sát các năm trước đã được xem xét và cải thiện. Cho đến năm 2010, tổng cộng có 7 chỉ số chính được sử dụng để thực hiện cuộc điều tra. Các chỉ số này là: cơ sở hạ tầng mạng, các ứng dụng yêu cầu giao diện chức năng, sự tối ưu hóa quá trình quản lý, cổng thông tin điện tử quốc gia, vai trò của CIO, thúc đẩy chính phủ điện tử và sự tương tác trực tuyến của người sử dụng. Bảy chỉ số được chia nhỏ thành 31 chỉ số phụ.
Bảng xếp hạng chính phủ điện tử của trường đại học Waseda đánh giá sự phát triển của chính phủ điện tử theo quan điểm Châu Á, sử dụng từ mẫu gồm các nước điển hình trên toàn cầu; góp phần làm phong phú thêm các quan điểm hiện có theo các tài liệu nghiên cứu về chính phủ điện tử.
Các nghiên cứu của Viện Chính phủ điện tử, Đại học Waseda tập trung phân tích sự phát triển của 7 chỉ số chính trong khu vực công, cũng như mối quan hệ giữa chính phủ và các bên liên quan của họ.
Để có được những thông tin mới nhất và chính xác nhất, cùng với kết quả đánh giá các trang web liên quan, các thành viên của Viện Chính phủ điện tử đã tham gia các hội nghị, hội thảo về Chính phủ điện tử trong nước và quốc tế, bao gồm sự tham gia của nhiều quan chức chính phủ và các tổ chức nghiên cứu ở các nước. Kết quả sơ bộ của bảng xếp hạng cũng đã được thảo luận với các chuyên gia về chính phủ điện tử tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), APEC, OECD và Ngân hàng Thế giới. Những kết quả này cũng đã được thảo luận trong hội nghị quốc tế và hội thảo do học viện tổ chức.
Viện Chính phủ điện tử, trường đại học Waseda cũng thực hiện chức năng của Trung tâm nghiên cứu về Chính phủ điện tử của diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC). Phối hợp với APEC, Viện liên tục theo dõi và nghiên cứu về quá trình phát triển Chính phủ điện tử tại các nền kinh tế thành viên APEC từ năm 2004 như một phần của hoạt động từ sáng kiến "e-APEC".
Viện Chính phủ điện tử, trường đại học Waseda sẽ tiếp tục theo dõi và đánh giá các sáng kiến Chính phủ điện tử trên toàn thế giới nhằm góp phần tạo dựng các công cụ thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông tin, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế và hỗ trợ mạnh mẽ cuộc sống của công dân trên toàn thế giới.
I. Đánh giá xu hướng phát triển của Chính phủ điện tử theo các chỉ số chính
1. Cơ sở hạ tầng mạng:
Trong chỉ số này, các cơ sở hạ tầng nền tảng cho việc thực hiện chính phủ điện tử đã được phát triển từ lâu ở nhiều nước. Cùng với quá trình phát triển quốc gia, số lượng người dùng Internet, người sử dụng băng thông rộng, người dùng điện thoại di động, và người sử dụng máy tính tiếp tục tăng. Điều này cũng đúng nhưng ở mức độ thấp hơn rất nhiều đối với các nước phát triển.
Thực trạng này được chứng minh khi nhìn vào bảng xếp hạng của các nước có cơ sở hạ tầng mạng phát triển nhất. Nhiều quốc gia chia sẻ cùng một bậc xếp hạng, cho thấy cơ sở hạ tầng viễn thông ở những nước này hiện đã rất phát triển. Hơn nữa, giữa quốc gia có nền tảng mạng tiên tiến với các nước có xếp hạng tiếp theo có ít sự khác biệt.
Theo kết quả khảo sát, Thụy Điển xếp ở vị trí đầu tiên, tiếp theo là Đan Mạch và Thụy Sĩ cùng đứng thứ hai, sau đó Hà Lan, tiếp theo là Na Uy và Anh. Và cuối cùng, Canada, Phần Lan, Đức, Mỹ và Hàn Quốc.
2. Giao diện của các ứng dụng chức năng:
Một trong những chỉ số chính đánh giá mức độ thành công của chính phủ điện tử là chính phủ có thể cung cấp dịch vụ điện tử thân thiện và an toàn.
Các chiến lược để cung cấp dịch vụ điện tử ban đầu chỉ dựa trên chức năng và trách nhiệm của các cơ quan chính phủ, tập trung vào việc cung cấp và nâng cao dần dần dịch vụ trực tuyến. Sau đó, chiến lược chuyển sang cung cấp dịch vụ trực tuyến theo định hướng người sử dụng, kết quả dễ thấy nhất là ngày càng có nhiều hơn các các dịch vụ điện tử đa dạng, tiên tiến và toàn diện thông qua một cổng thông tin dịch vụ một cửa duy nhất.
Xu hướng gần đây cho thấy các chính phủ đang sử dụng công cụ mạng xã hội (công cụ phi chính phủ) để tăng cường việc cung cấp các dịch vụ Chính phủ điện tử. Kết quả của khảo sát cho thấy Mỹ, Australia, Canada, Estonia xếp tại các vị trí số 1, 2, 3 và 4. Ở vị trí thứ 5 là Đan Mạch và ở vị trí thứ 6 là 5 quốc gia (Phần Lan, Pháp, Ý, Singapore, Tây Ban Nha). Việc xếp hạng cho thấy rằng một lần nữa có sự tập trung của các quốc gia bởi các ứng dụng Chính phủ điện tử đang trở nên phổ biến hơn. Tuy nhiên các quốc gia với các chức năng ứng dụng Chính phủ điện tử tốt nhất có các thành tựu nổi bật hơn, phân biệt hẳn so với các quốc gia còn lại.
3. Tối ưu hóa quản lý
Trong phần này tập trung vào việc đánh giá mức độ tin học hóa và hội nhập công nghệ thông tin của các chính phủ, định lượng những nỗ lực của chính phủ trong lĩnh vực này.
Tất cả các chính phủ hiểu rằng CNTT có thể giúp họ sắp xếp hợp lý các quy trình và tối ưu hóa năng suất của các Bộ, ngành. Tuy nhiên, không phải tất cả các chính phủ đều có thể đạt được thành tựu đáng kể trong quá trình tích hợp thống nhất. Cơ sở hạ tầng và năng lực địa phương là một vấn đề, và đây không phải là lý do duy nhất gây trở ngại cho các chính phủ trong việc tối ưu hóa năng suất của họ. Tiến độ phát triển có thể bị dừng và chậm do cấu trúc cơ bản của chính phủ, nếu chính quyền địa phương quá mạnh trong tương quan với chính quyền trung ương.
Đối với chỉ số tối ưu hóa quản lý, sự tập trung trong xếp hạng của các quốc gia thậm chí còn rõ ràng hơn. Xếp hạng đầu tiên về chỉ số này là 3 quốc gia: Đức, Singapore và Hàn Quốc. Tại vị trí thứ 4 có 9 nước. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng sự tối ưu hóa quản lý đang được thực hiện ở nhiều quốc gia ở mức độ chất lượng tương tự nhau. Đồng thời nhu cầu tinh chỉnh thêm chỉ số này cũng được đặt ra để làm cho nó sáng suốt hơn, phản ánh các kinh nghiệm tối ưu hóa quản lý tốt, xây dựng các chuẩn mực tối ưu hóa quản lý tốt nhất.
4. Cổng thông tin quốc gia
Cổng thông tin quốc gia thường là điểm đến cơ bản nhất cho công dân và những người dùng khác để truy cập sử dụng các dịch vụ Chính phủ điện tử. Hầu hết các nước được khảo sát ở đây từ lâu đã thành lập cổng thông tin và do đó đạt được một mức độ phát triển nhất định về kỹ thuật.
Dịch vụ dựa trên web như: Wikipedia, Facebook, YouTube, v.v… đã được xây dựng trong một thời gian dài. Dịch vụ điện tử được xây dựng với tư cách như đơn vị cung cấp nội dung, địa chỉ liên hệ, phản hồi và thậm chí cả các ứng dụng, hướng tới người sử dụng; thường được gọi là Web 2.0. Điều quan trọng cần lưu ý là trong khi những ứng dụng ban đầu này được sử dụng cho những mục đích "vui vẻ" của cá nhân và cho mục đích tạo lợi nhuận của doanh nghiệp, thì chúng lại đang được sử dụng ngày càng tăng trong quá trình phát triển chính phủ điện tử để tăng cường khả năng tiếp cận với công dân của các cổng thông tin quốc gia.
Đối với chỉ số này, Hoa Kỳ, Anh và Singapore được xếp hạng 1, 2 và 3, tiếp theo là Canada và Thụy Điển ở vị trí thứ 4, sau đó Estonia và Nhật Bản xếp tiếp theo tại vị trí số 6. Phần Lan, Nam Phi và Đức đứng thứ 8, 9 và 10.
Những kết quả này cho thấy sự thống trị tiếp tục của Cổng thông tin quốc gia usa.gov của Mỹ, cổng thông tin xếp hạng số 1 năm ngoái đối với chỉ số này. Các cổng thông tin Hoa Kỳ tiếp tục dẫn đầu về thiết kế, chuyển hướng, sử dụng sáng tạo và mở rộng của công nghệ web 2.0. Cổng thông tin usa.gov có blog, chia sẻ video, chia sẻ hình ảnh, các trang web mạng xã hội, thông báo liệu mới, công cụ đánh dấu trang xã hội, và microblogging để đặt tên một số các công nghệ web 2.0 được sử dụng. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Mỹ đứng đầu chỉ số này một lần nữa trong năm 2010.
Năm nay, có 8 hạng khác nhau phân bố trong 10 nước hàng đầu của chỉ số này. Năm ngoái, chỉ có 3 hạng khác nhau chia sẻ giữa các nước trong top 10 của chỉ số này. Sự phổ biến rộng rãi hơn các kết quả nghiên cứu có lẽ một phần do các chỉ số và các chỉ số phụ của bảng xếp hạng được liên tục tinh chế mỗi năm để phát hiện ra các cải tiến cũng như các công nghệ mới một cách tinh tế.Nghe
Đọc ngữ âm
5. Vai trò của Giám đốc Thông tin (CIO) trong Chính phủ
Vị trí và vai trò của CIO Chính phủ (Chief Information Officer) đã được nhiều chính phủ nhìn nhận như một trong những yếu tố quan trọng trong sự thành công của quá trình phát triển chính phủ điện tử. Trên cơ sở đó, Viện Chính phủ điện tử Waseda đã đưa vào sử dụng tập hợp các chỉ số về CIO kể từ bảng xếp hạng chính phủ điện tử đầu tiên vào năm 2005.
Nhận thức về vai trò quan trọng của tăng CIO, hầu hết các nước tham gia khảo sát đã bổ nhiệm vị trí CIO (hoặc chức danh tương đương) chịu trách nhiệm thực hiện phát triển Chính phủ điện tử. Các nước cũng có chương trình phát triển CIO, các cơ quan hỗ trợ CIO và khuôn khổ cho các chức năng CIO. Kết quả là sự khác biệt trong nhiệm vụ của CIO giữa các quốc gia đang giảm.
Trong cuộc điều tra của Waseda, các chỉ số về CIO các biện pháp trước mắt hướng tới các CIO trong chính phủ; thứ hai, mức độ ủy quyền; thứ ba, sự tồn tại của tổ chức thúc đẩy phát triển CIO, và cuối cùng, các khóa học phát triển đặc biệt và mức độ/chất lượng đối với chương trình giảng dạy liên quan tới CIO.
Kết quả của cuộc điều tra năm 2010 cho thấy với chỉ số này, Mỹ và Nhật Bản đang ở vị trí số một, tiếp theo là Đức, Hàn Quốc và Canada vào thứ 3, thứ 4 và thứ 5. Thái Lan và Singapore ở vị trí thứ 6, 8 và Australia tại Ý, Na Uy và Anh ở vị trí thứ 9. Điều thú vị cần lưu ý là trong số 11 nước hàng đầu của chỉ số này, 4 nước (Mỹ, Nhật Bản, Australia và Thái Lan) là thành viên của Học viện Quốc tế CIO (IAC). Điều này dường như cho thấy rằng công việc của IAC trong phát triển chất lượng CIO có thể đã bắt đầu đơm hoa kết trái.
6. Thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử
Chỉ số này chủ yếu đo lường các hoạt động tuyên truyền và quảng bá về Chính phủ điện tử tại mỗi nước. Hoạt động quảng bá về Chính phủ điện tử bao gồm thiết lập khuôn khổ luật pháp, tổ chức diễn đàn công cộng, chương trình giảng dạy về công nghệ tại các trường đại học, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành thúc đẩy Chính phủ điện tử, v.v…
Canada đang chiếm vị trí dẫn đầu đối với các tử hoạt động quảng bá và thúc đẩy Chính phủ điện. Điều đáng chú ý là Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ đều đứng thứ 2. Hàn Quốc là ở vị trí thứ 3 năm ngoái, trong khi Mỹ đã di chuyển lên từ vị trí thứ 5 từ năm trước và Thổ Nhĩ Kỳ đã đứng ở vị trí thứ 5.
7. Tăng cường giao dịch điện tử
Tăng cường sử dụng công nghệ web 2.0 trong các ứng dụng Chính phủ điện tử, hay còn gọi là Chính phủ 2.0 đang ngày một gia tăng. Đối với chỉ số này, Australia, Anh, và Hoa Kỳ là các nước dẫn đầu. Điều này có thể là do kết quả từ cơ sở hạ tầng phù hợp sẵn có và các đặc điểm quốc gia của các nước này, trong đó công dân có nhiều thiên hướng cá nhân, thẳng thắn hơn trong quan điểm của họ, và đòi hỏi các quyền cá nhân của họ từ chính phủ nhiều hơn.
Đan Mạch và Đức đang ở hạng 4 và 5, tiếp theo là Philippines, New Zealand và Estonia, đứng tại vị trí thứ 6, sau đó cuối cùng đã có 7 quốc gia xếp vị trí thứ 9 là Singapore, Hà Lan, Kazakhstan, Ý, Hồng Kông, Pháp và Canada.
II. Một số khuyến nghị để hành động trong tương lai
Nhìn chung, qua tất cả các chỉ số trên đây, có thể nhận thây Chính phủ điện tử đã có nhiều cải thiện tại tất cả các khu vực trên thế giới. Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã có phần làm chậm lại các chương trình Chính phủ điện tử. Nhưng bất chấp khủng hoảng tài chính, tất cả các nước được khảo sát đã nhận ra tầm quan trọng của Chính phủ điện tử và đang đi về phía trước với các kế hoạch Chính phủ điện tử.
Mạng lưới cơ sở hạ tầng nói chung đang được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc cần phải được thực hiện để mức độ kết cấu hạ tầng mạng cơ bản của các nước đang phát triển sánh ngang với các nước phát triển.
Truyền thông qua điện thoại di động đã phát triển ở nhiều nước đang phát triển - nơi mà với nhiều lý do, việc sử dụng và mở rộng các đường điện thoại cố định là quá đắt. Trên cơ sở đó, việc xây dựng cổng thông tin quốc gia và các dịch vụ ứng dụng Chính phủ điện tử của nhiều nước đang phát triển có sử dụng công nghệ "điện thoại di động thân thiện" trong phát triển "Chính phủ di động".
Trong khoảng 5 năm tới, phần lớn các chính phủ dự kiến sẽ củng cố việc quản lý các chương trình Chính phủ điện tử theo các CIO ở mọi cấp của chính phủ, cuối cùng lên tới các siêu CIO (CIO quốc gia). Điều này do sự phức tạp ngày càng tăng của các chương trình chính phủ điện tử và nhu cầu cấp bách để phối hợp toàn bộ các ứng dụng chính phủ điện tử của quốc gia để đáp ứng nhu cầu của công dân và doanh nghiệp.
Cũng sẽ có một sự gia tăng tương ứng trong chương trình đào tạo đã có nhằm phát triển một cách có hệ thống các CIO như một số quốc gia hàng đầu thế giới đã làm.
Kết quả là, như nhiều chương trình Chính phủ điện tử quốc gia tập trung quanh các siêu CIO, hoạt động quảng bá và thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử sẽ được phối hợp nhịp nhàng và sắp xếp hợp lý.
Một vấn đề mà các nhà hoạch định CNTT cần lập kế hoạch và chuẩn bị là Công nghệ thông tin xanh. Là phong trào đang nóng lên trên toàn cầu, công dân đòi hỏi các tổ chức chính phủ của họ ngày càng có trách nhiệm cao hơn trong việc sử dụng CNTT-TT nhằm giảm lượng giấy tờ in ấn. Các công nghệ như điện toán đám mây và ảo hóa là những giải pháp có thể sử dụng để giảm năng lượng cũng như cắt giảm chi phí.
Từ một quan điểm khác đối với vấn đề CNTT xanh, con người sẽ quan tâm nhiều hơn đến các ứng dụng và dịch vụ Chính phủ điện tử cho phép công dân và doanh nghiệp giảm lượng giấy tờ trong các giao dịch của họ. Chính phủ nên bắt đầu chuẩn bị để cung cấp các ứng dụng như vậy.
Cuối cùng, khi số lượng người dùng kết nối với Internet ngày càng tăng mỗi năm, và khi các thiết bị phần cứng CNTT trở nên đa dạng, thông minh hơn và kết nối nhiều hơn, với sự gia tăng không ngừng của số lượng người sử dụng các phần mềm mạng xã hội, dự kiến rằng nhu cầu cho các dịch vụ giao dịch trực tuyến của người dân sẽ tăng. Chính phủ cần làm tốt để bắt đầu lập kế hoạch cho vấn đề này ngay bây giờ.
PHỤ LỤC
Bảng 1: Xếp hạng Chính phủ điện tử theo quốc gia 2010
|
Xếp hạng |
Nước |
Điểm số |
|
1 |
Singapore |
83.2 |
|
2 |
Anh |
83 |
|
3 |
Mỹ |
83 |
|
4 |
Canada |
79.7 |
|
5 |
Úc |
79 |
|
6 |
Nhật |
76.8 |
|
7 |
Hàn Quốc |
76.5 |
|
8 |
Đức |
76.4 |
|
9 |
Thụy điển |
74.7 |
|
10 |
Đài Loan |
74.4 |
|
11 |
Ý |
74.4 |
|
12 |
Phân Lan |
72.9 |
|
13 |
Đan Mạch |
72.5 |
|
14 |
Estonia |
72.2 |
|
15 |
New Zealand |
71.2 |
|
16 |
Hồng Kông |
70.8 |
|
17 |
Tây Ban Nha |
70 |
|
18 |
NaUy |
68.1 |
|
19 |
Pháp |
68 |
|
20 |
Thụy Sỹ |
67 |
|
21 |
Hà Lan |
65 |
|
22 |
Bỉ |
64.2 |
|
23 |
Thổ Nhĩ Kỳ |
63.9 |
|
24 |
Malaysia |
63.5 |
|
25 |
Thái Lan |
63.2 |
|
26 |
Philipin |
63 |
|
27 |
Nam Phi |
58 |
|
28 |
Ấn độ |
57 |
|
29 |
Mexico |
56.9 |
|
30 |
Trung Quốc |
52 |
|
31 |
Tuy ni di |
50 |
|
32 |
Indonesia |
48.4 |
|
33 |
Ka zac tan |
46.5 |
|
34 |
Việt Nam |
44 |
|
35 |
Braxin |
43.3 |
|
36 |
Nga |
42.6 |
|
37 |
Chi lê |
42.4 |
|
38 |
Peru |
41.5 |
|
39 |
Brunây |
36.4 |
|
40 |
Fi Ji |
35 |
Bảng 2: Hệ thống các tiêu chí đánh giá
|
Chỉ số chính |
|
Chỉ số phụ |
|
1. Tối ưu hóa quản lý |
1.1 |
Nhận thức về tối ưu hóa |
|
|
1.2 |
Kiến trúc tổng thể tích hợp |
|
|
1.3 |
Hệ thống quản lý hành chính và ngân sách |
|
2. Các ứng dụng chức năng |
2.1 |
Luật về mạng thông tin |
|
|
2.2 |
Hệ thống đấu thầu điện tử |
|
|
2.3 |
Hệ thống thuế điện tử |
|
|
2.4 |
Hệ thống thanh toán điện tử |
|
|
2.5 |
Hệ thống bầu cử điện tử |
|
|
2.6 |
Dịch vụ an sinh xã hội |
|
|
2.7 |
Đăng ký dân sự |
|
|
2.8 |
Dịch vụ pháp lý |
|
|
2.9 |
Dịch vụ lao động |
|
|
2.10 |
Dịch vụ y tế |
|
3. Cổng thông tin quốc gia |
3.1 |
Các danh mục chính |
|
|
3.2 |
Độ tương tác |
|
|
3.3 |
Giao diện |
|
|
3.4 |
Kỹ thuật |
|
4. Thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử |
4.1 |
Luật pháp |
|
|
4.2 |
Kế hoạch/Chiến lược |
|
|
4.3 |
Chính sách |
|
|
4.4 |
Các cơ quan chính phủ |
|
|
4.5 |
Các tổ chức tư nhân |
|
|
4.6 |
Sự phối hợp |
|
|
4.7 |
Tài chính |
|
|
4.8 |
Các ẩn phẩm/báo chí |
|
|
4.9 |
Đào tạo |
|
|
4.10 |
Hội thảo, hội nghị |
|
|
4.11 |
Quảng bá |
|
|
4.12 |
Các Ủy ban giám sát chính phủ |
|
|
4.13 |
Các Ủy ban giám sát tư nhân |
|
|
4.14 |
Các tổ chức hiệp hội |
|
5. CIO |
5.1 |
Sự tồn tại |
|
|
5.2 |
Nhiệm vụ |
|
|
5.3 |
Tổ chức |
|
|
5.4 |
Chương trình phát triển |
|
6. Hạ tầng mạng |
6.1 |
Người dùng Internet |
|
|
6.2 |
Số lượng thuê bao mạng băng rộng |
|
|
6.3 |
Số lượng thuê bao di động |
|
|
6.4 |
Số người dùng máy tính |
|
7. Giao dịch điện tử |
7.1 |
Thông tin |
|
|
7.2 |
Cơ chế |
|
|
7.3 |
Sự tư vấn |
Cục Ứng dụng công nghệ thông tin
|