Trang chủ| Sơ đồ |Tiếng Anh
 
 
Nghiên cứu - Đánh giá
  
Tổng quan về Web 2.0
Cập nhật : 13:45 - 14/12/2011

Web 2.0 là gì?

  Về mặt công nghệ, việc xây dựng những khối của Web 2.0 là những đối mới được giới thiệu trong những năm qua để gia tăng khả năng sử dụng, tích hợp và sử dụng lại các ứng dụng web. Đó là các công nghệ: Ajax, XML, Open API, Microformats, Flash/Flex.

Từ những công nghệ này, một số ứng dụng đã được phát triển cho phép dễ dàng xuất bản, chia sẻ thông tin, và hợp tác, ví dụ Blog, Wiki, Podcast, RSS feeds, Tagging (v.d. Flickr, del.icio.us), các mạng xã hội (v.d. Facebook, Myspace), Search engine, Massive Multyplayer Online Games (v.d. World of Warcrarft, Second Life). Đây là những ứng dụng cơ bản được coi như là Web 2.0.

Những ứng dụng trên được phân biệt nhau bởi việc chia sẻ những “giá trị” để xây dựng tri thức và kỹ năng của người sử dụng. “Giá trị” có nghĩa là mức độ sử dụng thông tin cung cấp từ những người sử dụng. Nhờ đó, người sử dụng có thể được phân thành: nhóm thiết kế và phân phối dịch vụ; nhóm đánh giá, thẩm định; nhóm sử dụng nội dung của hai nhóm trên; nhóm biến đổi các ứng dụng Web 2.0 thành các dịch vụ cho những người sử dụng khác. Tỷ lệ của bốn nhóm này được chỉ ra trong hình 1.

Hình 1. Vai trò của người sử dụng trong các ứng dụng của Web 2.0

Đặc điểm của Web 2.0

          Web 2.0 có những đặc điểm:

-         Công nghệ Web 2.0 đang sử dụng web như nền tảng: không yêu cầu cài đặt nhiều phần mềm trên phía người sử dụng- đó là mô hình lập trình nhẹ. Để làm được điều này bạn cần một chuẩn mở và giải pháp định hướng dịch vụ chứ không phải là việc lập trình theo yêu cầu và lắp ráp các dịch vụ. Việc tổ chức dữ liệu, video, hình ảnh và âm nhạc là những ví dụ. Một vài ứng dụng Web 2.0 là phát triển bên dưới và không theo các chu kỳ sản xuất phần mềm chuẩn. Điều này cũng liên quan đến thực tế mà họ không thể cài đặt vào các ứng dụng desktop nhưng phần mềm được cung cấp như dịch vụ qua Web. Hơn nữa, phần mềm độc lập với từng thiết bị luôn là một đặc điểm của Web nhưng với sự đa dạng lớn về các thiết bị được xảy ra và một vài người truy cập Internet không qua PCs thì việc hiển thị trở nên quan trọng hơn, ví dụ các thiết bị di động cầm tay. Một yếu tố quan trọng khác là các dịch vụ web được truy cập ngày nay không phải từ các Web clients (trình duyệt) mà còn từ phần mềm khác mà không định hướng cơ bản cho Web. Ví dụ như phần mềm iTunes từ Apple. Nó là một ứng dụng desktop nhưng nó được sử dụng để giao tiếp với thiết bị bên ngoài (iPhone hoặc iPod) và nó sử dụng RSS để có được thông tin. Sự kết hợp này thể hiện rõ ràng một thiết bị độc lập quan trọng đối với các ứng dụng Web 2.0.

-         Tập trung vào việc kết nối con người chứ không phải máy tính: ở Mỹ những công cụ làm việc này được mô tả như “folksonomies” là các công cụ và kỹ thuật để tạo cho các wiki, blogs cũng như sử dụng taggingfeeds, mà tự động giúp tham gia trong mạng để chia sẻ những liên kết ưa thích. Folksonomies được phân biệt với taxonomy bằng việc sử dụng tags để phân loại một cách linh hoạt; taxonomies kiểm soát việc phân loại và tổ chức các khái niệm có liên quan với nhau. Một loại ứng dụng của Web 2.0 được gọi là tag clouds (hoặc word clouds) hoặc tag maps. Chúng tạo thành biểu diễn các từ trong một tài liệu hoặc các tags của trang (tập hợp các trang) và được sử dụng trong các trang tin tức để đưa ra tổng quan về những tin tức quan trọng nhất của ngày hoặc của một chủ đề chính. Dưới đây là một ví dụ về tag cloud cho Web 2.0. Một vài khái niệm và đặc điểm quan trọng là bản đồi và cỡ tương ứng với độ quan trọng hoặc thường xuyên sử dụng trong ngữ cảnh của Web 2.0.

-         Làm giàu kinh nghiệm người sử dụng: Một trong những hứa hẹn và công nghệ sử dụng rộng rãi là AJAX (Asynchronous JavaScript and XML), có thể được mô tả tốt nhất bởi bản đồ Google và những bất đồng bộ tối thiểu khi bạn di chuyển xung quanh hành tinh. Một vài dự án phát triển cho phép ‘mash’.

-         Khai thác trí thông minh tập thể: các giải thuật, công nghệ parsers và ‘mash up’ được yêu cầu – Giải pháp thông minh thương mại được phát triển đồng thời với hệ thống thông minh để giám sát, bắt video, nhận dạng mẫu và phân giải mẫu. Mashup hay là kết hợp lai dữ liệu và/hoặc chức năng từ hai hay nhiều nguồn bên ngoài để tạo dịch vụ mới. Vài ví dụ tồn tại về những người phát triển kết hợp các dịch vụ, ví dụ, Google Maps (dịch vụ nhà đất, v.v.). API của Google có thể được sử dụng. Các công cụ chuyển đổi ngôn ngữ được cải thiện nhiều hơn và sẽ trở thành đặc điểm bình thường trong một vài năm tới. Bên cạnh đó, việc tham chiếu thực tế dữ liệu được tăng cường qua phần mềm và việc sở hữu dữ liệu sẽ xác định ai giám sát ứng dụng và có thể phân phối sản phẩm tốt nhất. Sở hữu dữ liệu có thể được tăng cường nhiều hơn qua kiến trúc tham gia mà cho phép người sử dụng để làm dữ liệu có giá trị hơn qua tương tác xã hội và đầu vào.


Hình 2. Bản đồ tag của Web 2.0: hiển thị các khái niệm Web 2.0 về cỡ tương ứng với tầm quan trọng hoặc thường xuyên sử dụng của Web 2.0 (Nguồn: www.railsonware.it)

Phân loại các ứng dụng Web 2.0

          Các ứng dụng Web 2.0 có thể được phân loại theo những đặc điểm:

- Chung chung và cụ thể: các ứng dụng của Web 2.0 có thể có tính chất chung chung như là Google Earch hoặc cụ thể như là các website tương tác của quận trong một thành phố.

- Tĩnh và động: các ứng dụng Web 2.0 có đặc tính tĩnh như là Youtube (www.youtube.com) và đặc tính động như những live chats, các hình ảnh hoặc các tài liệu có thể trao đổi như MSN, Yahoo.

- Đóng và mở: các ứng dụng Web 2.0 có thể hoạt động trong môi trường đóng như tạo các trang web cá nhân và mở như Google Maps, cho phép người sử dùng tìm kiếm thông tin trong vị trí địa lý xác định.

- Cá nhân và số đông: một số ứng dụng chỉ dành có các cá nhân để chia sẻ kinh nghiệm với những người quan tâm khác như là weblogs, hoặc cũng có thể phục vụ sự quan tâm của một đám đông. Ví dụ như diễn đàn để bàn luận về các vấn đề xã hội.

Hoặc chúng được phân loại dựa vào chức năng:

- Chia sẻ thông tin như hình ảnh, phim, tin tức và âm nhạc.

- Tham gia: việc tham gia đánh giá những bộ phim được đặt trên Youtube hay là đánh giá những bài viết trên các tạp chí điện tử.

- Hội họp: Web 2.0 có thể được dùng để chia sẻ mối quan tâm trong cùng một cộng đồng, giảm những hạn chế về liên lạc như là MySpace, Twitter, Facebook.

- Hỗ trợ giám sát dịch vụ: các ứng dụng Web 2.0 cung cấp vị trí của những bệnh viện, thư viện, trường mẫu giáo, trường học.

- Giao dịch như là eBay, nghĩa là cung cấp các dịch vụ thương mại theo những cách đổi mới, các Web 2.0 như là những cửa hàng trực tuyến mà người ghé thăm có thể mua những thứ cần thiết qua mạng.

Phân biệt Web 2.0 và Web 1.0

          Web 1.0 là thời kỳ của Netscape. Trong đó những người sử dụng thông tin đóng vai trò thu động và sử dụng thông tin. Thông tin trên website có nội dung tĩnh. Mức tương tác giữa những người cung cấp và người sử dụng thông tin bị hạn chế. Các nhà cung cấp thông tin tập trung và công khai thông tin là chính. Thông tin trên Web 1.0 được tổ chức bởi taxonomies, là hệ thống phân loại từ trên xuống được thiết kế bởi những chuyên gia.

Web 2.0 là thời kỳ của Google và weblogs đóng vai trò quan trọng. Ở thời điểm này, người sử dụng thông tin đóng vai trò tích cực. Họ không chỉ sử dụng thông tin, mà còn thêm và chia sẻ thông tin. Wikis đóng vai trò quan trọng để phát và chia sẻ thông tin. Như vậy, người sử dụng cũng có thể trở thành người sản xuất. Do đó, mà các ứng dụng web trở nên khác nhau nhờ việc sử dụng. Thông tin trên website có nội dung động và mức tương tác trên web là cao. Và khó có thể phân biệt giữa người sử dụng và người tạo thông tin. Trong Web 2.0 đã xuất hiện sự dịch chuyển từ việc sử dụng đến đóng góp. Cuối cùng, thông tin trên Web 2.0 được tổ chức theo dạng folksonomies.



Hình 3. So sánh Web 1.0 và Web 2.0: Quá trình xây dựng một trang web trong môi trường 1.0 và 2.0 được chỉ trong hệ thống, nổi bật là bản chất hợp tác và các công cụ mới của Web 2.0

Web 1.0

Web 2.0

Encyclopaedia Britannica

Wikipedia

Các trang web cá nhân

Blogs (web logs)

Công khai

Tham gia

Thư mục (“taxonomy”)

Tagging (“folksonomy”)

Stickiness

Syndication

Netscape

Goolge

Digital highway

Các cộng đồng ảo

Tên miền

Search engine optimalization

Screen scraping

Web services

Hệ thống quản lý nội dung

 Wikis

Sử dụng nội dung

Cùng tạo nội dung

Bảng 2. Sự khác nhau giữa Web 1.0 và Web 2.0

          Web 2.0 nổi bật hơn Web 1.0 là một tầng mới về phát triển kỹ thuật và không thay thế Web 1.0. Web 2.0 được hiểu như pha mới nhất trong cải tiến của Internet và Web.

Thách thức khi sử dụng Web 2.0

          Có ba vấn đề cần quan tâm khi sử dụng Web 2.0 là sự riêng tư, tính bảo mật, và tính bản quyền.

          Sự riêng tư được thể hiện trong sự hợp tác công khai. Chẳng hạn như một thảo luận được thực hiện ở vài thời điểm với một số lượng thông tin được công khai trên Facebook. Khi đó, người sử dụng sẽ quyết định thông tin nào có thể được xem bởi ai. Khia cạnh riêng tư có thể cần tinh vi hơn và khó đối phó hơn.

          Việc sử dụng công nghệ AJAX cho phép chúng ta phát triển nhiều ứng dụng hơn. Sử dụng những mã và các chương trình chạy trên websites (hoặc cho phép giao tiếp giữa các website) không may cũng tăng cường khả năng lạm dụng. Tấn công để phá hủy các website hoặc chiếm đoạt tài khoản của người sử dụng là vấn đề lớn hơn cho các ứng dụng Web 2.0 có tương tác đối với những website của Web 1.0. Vì vậy, cố gắng tăng cường hướng đến sự an toàn phải được le kế hoạch khi xây dựng các ứng dụng Web 2.0.

          Đối với các ứng dụng Web 2.0, dữ liệu là thành phần trung tâm, quan trọng hơn cả phần mềm. Vì thế, người sử dụng có thể thêm dữ liệu đối với một ứng dụng hoặc điều chỉnh dữ liệu đang tồn tại. Điều này ảnh hưởng đến các vấn đề luật pháp liên quan và bản quyền ngay lập tức. Rõ ràng các ví dụ về vấn đề này là các trang nơi mà người sử dụng có thể công khai những bức ảnh của họ (Flickr) hoặc video (YouTube). Cả Flickr và YouTube có các hệ thống đặt để kiểm tra sự xâm phạm và những vi phạm luật pháp khác liên quan đến sự riêng tư, bảo vệ trẻ vị thành niên, v.v. lâu dài.

Chuyển đổi từ sử dụng Web 1.0 sang Web 2.0

          Thách thức của chính phủ trong thời kỳ Web 2.0 là làm thế nào để khai thác ưu thế này một cách hiệu quả và tiến hóa đến tri thức của cộng đồng. Thách thức này không chỉ hạn chế trong thời kỳ công nghệ, nó bao gồm cấu trúc tổ chức và xã hội. Điều quan trọng ở đây là thiết kế khung và những quá trình để tạo mối quan hệ với người dân một cách cẩn thận, để tăng cường đội tin cậy của người dân và sự tham gia của họ.

          Một trong những trao đổi có ý nghĩa nhất của Web 2.0 là người sử dụng trở thành người tạo nội dung. Người sử dụng tạo tags và tổ chức thông tin theo cách riêng, có thể sử dụng tất cả các ứng dụng của họ để tạo thông tin mới. Ngược lại với các website công đồng để tạo danh mục và giám sát nội dung bởi một quản trị website trong Web 1.0, trên Web 2.0 nội dung được tạo và tham sát theo thiết lập ngang hàng (peer-to-peer P2P) thiết lập bởi người sử dụng Internet. Điều này cung cấp người sử dụng Internet việc giám sát nội dung lớn hơn và tự do hơn trong việc trình bày quan điểm và yêu cầu của mình. Do đó, nền tảng Web 2.0 có ảnh hưởng về tạo nội dung, sở hữu và phân bố thiết lập trực tuyến.      

Nền tảng Web 2.0 tập trung vào những người sử dụng riêng và mạng lưới của họ, không như Web 1.0 tập trung vào vào các website cá nhân. Bây giờ, những cá nhân tạo blogs cá nhân, podcasts, video-blogs, có thể liên kết và hoạt động với người sử dụng khác. Họ tổ chức và tìm kiếm nội dụng sử dụng từ khóa (“folksonomy” hoặc social bookmarking), họ kết nối với máy PC của nhau và chuyển đổi nội dung và file. Các cá nhân cũng hợp tác để tạo sản phẩm và dịch vụ truyến, và tạo mashups kết hợp dữ liệu và ứng dụng để cung cấp thông tin mới.

          Nền tảng Web 2.0 biến đổi môi trường trực tuyến đối với lấy người sử dụng làm trung tâm đến cá nhân. Từ quan điểm chính phủ điều này có nghĩa là các cơ quan phải thu hút người dân và những khách đến thăm trang để đưa ra yêu cầu của họ.

          Chính phủ cho người dân biết họ đang ở đâu và lợi ích về trí tuệ tập thể của người dân. Như là việc hứa hẹn với người dân về sự thiết lập từ phía họ sẽ gia tăng độ tin cậy của người dân với chính phủ và giúp chính phủ xây dựng lòng tin từ dân.

          Để thu hút người dân trong cộng đồng trực tuyến, chính phủ cần tăng cường phạm vi và cung cấp nội dung và dịch vụ. Để thu được điều này bằng cách hiệu quả về chi phí, các cơ quan phải dựa vào những người trung gian, có thể là người dân hoặc doanh nghiệp tạo ra nội dung, mashups và các ứng dụng để cung cấp dịch vụ đến những người dân khác. Sử dụng những người trung gian sẽ cho phép chính phủ cung cấp các dịch vụ có thể thay đổi đối với người dân của họ ở mức chi phí thấp hơn giám sát các dịch vụ hiện tại theo cách tập trung. Tuy nhiên, chính phủ phải giám sát phân bố dịch vụ đến người dân và khách hàng qua những người trung gian vì có ý nghĩa rõ ràng về chất lượng dịch vụ. Ưu tiên cho những mâu thuẫn với những người trung gian có ở đây, mà có ảnh hưởng tiêu cực về sức mạnh của chính phủ đối với sử dụng quyền lực.

          Ý nghĩa của các ứng dụng Web 2.0 yêu cầu một môi trường mới về văn hóa hợp tác trong chính phủ và tổ chức, cách mới về các công việc thiết kế và quản lý con người. Và quan trọng hơn, có một khung phù hợp yêu cầu sử dụng Web 2.0 theo cách tối ưu.

          Việc sử dụng Web 2.0 trong chính phủ được chia thành ba loại:

- Tập trung vào truyền thông;

- Tập trung vào tương tác;

- Tập trung vào dịch vụ.

          Mức thu hút chính phủ với người dân gia tăng từ mức đầu tiên về sử dụng tập trung vào giao tiếp sử dụng đến sử dụng tập trung vào dịch vụ. Nó được biểu diễn bởi một tháp trong hình sau:


Hình 4. Khung sử dụng Web 2.0 trong chính phủ. Mức gtham gia của người dân được biểu diễn tăng liên quan đến việc giảm cỡ nhóm trong hình tam giác. Ba loại sử dụng được mô tả riêng rẽ (Nguồn: businessofgovernment.org)

Tập trung vào truyền thông: thông tin của chính phủ được truyền bá đến người dân càng xa và rộng thì càng tốt. Nhóm người dân thu được tri thức về nội dung, có thể dễ dàng truy cập đến thông tin ở bất cứ đâu và chính phủ có thể khuyến khích chiến dịch quốc tế với chi phí hiệu quả.

          Mục đích chính của việc sử dụng là tăng nội dung mà chính phủ đưa vào các công cụ mạng xã hội, như blogs, podcasts và vlogs, RSS, wikis, và các mạng xã hội trong doanh nghiệp. Sử dụng tập trung vào truyền thông được xem là cách dễ nhất để thực hiện, đối với những tổ chức bắt đầu kinh nghiệm với những việc thực hiện trước đó với bất kỳ ứng dụng nào khác.

          Tuy nhiên, truyền đạt đối với sử dụng chất lượng đảm bảo đi kèm với khu vực công và những gì cần để chính phủxây dựng mối quan hệ với người dân. Chính phủ phải thiết lập một quy tắc rõ ràng cho việc tham gia vào blogging và wikies để không vi phạm luật chứng thực.

          Web 2.0 cho phép bên thứ ba tải và kiết xuất nội dung từ tài nguyên chính phủ và đưa thông tin đến người dân. Điều quan trọng là chính phủ cho phép thông tin được truyền bá rộng rãi hơn đến người dân qua các phương tiện khác nhau, nhưng họ phải đảm bảo xác thực thông tin chính phủ được cung cấp ở website của bên thứ ba.

Tập trung vào tương tác: tương tác với người dân để có phản hồi của họ về chính trị, các vấn đề, dịch vụ và kế hoạch của chính phủ, để có lợi trong việc tạo nội dung mới và làm cho người sử dụng phương tiện trung gian để tạo mashups nội dung có lợi cho những người khác. Sử dụng tập trung vào tương tác là khó hơn được thực hiện để so sánh với sử dụng tập trung vào giao tiếp, vì khó để xác thực nội dung được tạo bởi người sử dụng trước khi trộn với nội dung mới.

Tập trung vào dịch vụ: sử dụng mạng xã hội quan trong bao nhiêu, khó thực hiện để thành công bấy nhiêu. Mạng xã hội yêu cầu chính phủ giám sát để cung cấp giá trị đến người sử dụng. Phương tiện trung gian có thể tích hợp vào nội dung không của chính phủ với nội dụng của chính phủ và tạo những sản phẩm thông tin mới để gia tăng giá trị thông tin chính phủ. Chính phủ phải tin cậy và xác thực các phương tiện trung gian để tạo các dịch vụ và cung cấp giá trị phù hợp với người dân. Trong khi sử dụng các phương tiện trung gian có thể thay đổi dịch vụ ở chi phí thấp nhất, chính phủ phải đảm bảo tính đồng nhất và công bằng về chất lượng dịch vụ cho tất cả mọi người.

Trong trường hợp sử dụng cuối cùng, thách thức của chính phủ là để đảm bảo tính riêng tư, bảo mật, hợp pháp của dữ liệu. Thách thức này gợi ý rằng có các vấn đề quan trọng đưa vào xem xét trước khi phổ biến trên mạng xã hội một cách rộng rãi. Chính phủ phải đưa vào các vấn đề, ảnh hưởng, và những mối đe dọa.

  

Đinh Hoàng Long - Cục Ứng dụng CNTT